Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Vĩnh biệt


Nghe từ “vĩnh biệt” tự nhiên lòng chúng ta chùng xuống. Sao mà thấy xa vời và não lòng quá. Lời vĩnh biệt làm cho lòng xôn sao rụng rời. Một bước hẫng mất mát. Sự hiện diện bị cắt đứt. Không còn gặp nhau nữa. Ra đi mãi mãi ngàn thu. Không phải một Thu mà ngàn Thu. Mỗi độ Thu về, lá cây đổi màu vàng úa và rụng xuống. Cảnh Thu thật buồn. Từng chiếc, từng chiếc lá khô héo và rụng bay theo chiều gió. Lá Thu rơi vĩnh biệt. Từ những lá già đến những lá non mới trổ đều lần lượt ra đi để cành cây trơ trụi. Không có lúc khởi đầu thì cũng chẳng có kết thúc. Không có sinh thì không có tử. Không có lúc chào đời thì không có lúc lìa đời. Không có mối liên hệ thì cũng chẳng có giây phút vĩnh biệt. Liên hệ càng sâu đậm, sự chia ly càng buồn đau. Sự vĩnh biệt chia cách nào mà con tim không rướm máu.

Sinh ra là sự khởi đầu. Chết là đến cùng đích. Sống là cuộc lữ hành. Lữ hành trần thế làm cho chúng ta đi từ trạng thái này đến trạng thái khác. Từ non nớt đến trưởng thành. Từ dại khờ đến sự hiểu biết. Từ yếu đuối đến mạnh sức. Từ sự cô đơn đến tình yêu nồng ấm. Từ vui mừng đến lòng biết ơn. Từ khổ đau đến sự cảm thương và từ sợ hãi đến niềm tin. Niềm tin vào Chúa Kitô đã chết và đã sống lại. Chúa Kitô sống lại là niềm xác tín và là hy vọng của chúng ta.

Chúng ta đang sống nhưng chúng ta không hiểu về mầu nhiệm của sự sống. Hết sống là đi vào cõi chết. Sách Giảng Viên nói rằng có sự ấn định thời gian cho mọi sự: Một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng; một thời để khóc lóc, một thời để vui cười; một thời để than van, một thời để múa nhảy (Gv 3,2-4). Trong cuộc lữ hành dưới thế, mọi người đều trải qua những phát triển căn bản như nhau. Rồi từng người cũng từ từ tách ra khỏi cuộc đồng hành. Giống như khi chúng ta bước lên chuyến tàu và mỗi người xuống một trạm khác nhau. Ai cũng phải xuống trạm. Trạm cuộc đời cũng thế, không ai có thể bỏ cái trạm sau cùng là sự chết.

Có biết bao người khắc khoải đi tìm ý nghĩa của sự chết. Nhiều người không biết rằng sau khi chết, số mệnh mỗi người sẽ ra sao? Chết có phải là hết không? Nếu không, chúng ta sẽ đi về đâu? Trải dài suy tư mọi thời để tìm giải đáp, con người vẫn còn bị bế tắc trước mầu nhiệm của sự chết. Văn minh khoa học giúp con người nghiên cứu học hỏi về sự sống để giúp giữ gìn sức khoẻ và chữa lành những bệnh tật, nhưng khi đã tắt thở thì con người đành bó tay. Khoa học chỉ có thể trả lời cho vấn đề sự sống, sự chết về khía cạnh thực nghiệm và thể chất. Mầu nhiệm của sự chết vẫn là một điều bí ẩn của niềm tin.

Ai trong chúng ta cũng có một chút kinh nghiệm về sự chết mòn. Sự chết của một tế bào, của một sợi tóc rụng xuống và sự chết dần chết mòn của trí khôn quên xót và xác thân hao gầy, đuối sức mỗi ngày. Nhưng không một ai có thể chia sẻ kinh nghiệm của cái chết hoàn toàn khi đã tắt thở lìa đời. Một khắc giây cách biệt muôn đời giữa sự sống và sự chết. Hai thế giới sống chết tách biệt ngàn trùng. Không có chiếc cầu nối liên hệ. Chết là chấm dứt và là vĩnh biệt. Đứng trước cái chết của người thân, chúng ta mới thực sự cảm thấy sự mất mát, đau lòng, tiếc nuối và thương nhớ là dường nào.

Hy vọng là nguồn sống của mỗi người chúng ta. Những người thân thuộc trong gia đình, anh chị em bạn bè và ân nhân tạo thành mỗi liên hệ gần. Càng gần thì càng thân. Thân thuộc thì không muốn chia lìa xa cách. Chúng ta chỉ muốn nói lời tạm biệt, hẹn gặp lại và mong có dịp lại cùng xum họp. Đâu ai muốn cắt bỏ đoạn tuyệt và nhất là nói lời vĩnh biệt. Vĩnh biệt như một bước hẫng. Thôi, người thân đã ra đi và ra đi mãi mãi. Kể từ nay chúng ta không gặp nhau, thấy nhau hay truyện trò với nhau được nữa. Chấm hết rồi.

Biết rằng không sớm thì muộn, ai ai cũng phải ra đi. Có những người ra đi để lại muôn ngàn nhớ thương. Có những người ra đi đã gây sự sầu héo, đơn côi giá lạnh và héo hon cho mảnh hồn còn lại. Sự ra đi đơn côi làm cho nhiều người lo lắng sợ hãi. Trong niềm tin của Kitô hữu, chúng ta tin tưởng rằng chết không phải là hết. Chết chỉ là qua đời. Chết là ra đi vào một thế giới khác. Chết là quy tiên. Chết là tạ thế. Chết là sự tách biệt giữa linh hồn và thể xác. Mỗi người bước vào đời một mình và cũng sẽ ra đi một mình. Cuộc ra đi rất xa không ngày trở lại. Chết là ra đi về nhà Cha. Muốn hưởng hạnh phúc vĩnh cửu phải bước qua cửa ngõ của sự chết. Nói chung, ai cũng sợ phải chết. Cho dù chúng ta tin rằng có chết đi mới được lên thiên đàng nhưng chẳng ai muốn chết sớm. Yêu mến thiên đàng nhưng chúng ta vẫn muốn sống.

Mỗi lần đi cầu nguyện viếng xác, nhìn xác không hồn nằm đó lạnh lẽo. Của cải trần gian trở thành vô nghĩa. Tình đời bon chen xuôi ngược, giờ đây chỉ có hai bàn tay trắng lạnh cóng. Sau ít ngày, thân xác sẽ tiêu tan và trở về cát bụi. Người ra đi là đi vào giấc ngủ ngàn thu. Họ không còn vấn vương bụi trần. Họ vào đời với hay bàn tay trắng và cũng ra đi thanh thản chẳng mang theo chi. Người chết ra đi vĩnh biệt nhưng người sống vẫn tiếp tục cuộc sống với bao thăng trầm. Chúng ta biết rằng cho dù có mặt của chúng ta hay không, tàu vẫn chạy chuyến đi chuyến về mỗi ngày. Mặt trời vẫn vươn lên mỗi buổi sáng và lặn xuống khi chiều về. Xã hội và môi trường chung quanh cứ tiếp tục vận hành.

Trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta được ngụp lặn trong tình yêu của Thiên Chúa. Dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. Chúa tạo dựng con người có hồn có xác giống hình ảnh của Chúa. Thiên Chúa ban cho con người có tình yêu liên đới để con người được sống trong tình yêu và chết trong tình yêu. Chính Đấng làm chủ sự sống đã hiến mình trên thập giá để diệt trừ sự chết. Sự chết không còn làm chủ được Người nữa như hạt lúa mì bị chôn vùi và hư nát rồi mới sinh bông hạt. Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12,24). Chúa Kitô chịu chết để đem lại sự sống cho con người. Chúa Giêsu phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25).

Như vậy, đối diện với sự chết chúng ta không còn phải quá sợ hãi. Sự chết là cửa dẫn chúng ta vào sự sống đời đời. Chúng ta đã có Chúa Giêsu dẫn đường về quê trời. Chính Chúa Giêsu đã hứa: Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em (Ga 14,2). Tin lời Chúa hứa, chúng ta vững bước trong mọi hoàn cảnh dù sống dù chết. Sau khi lìa cõi trần, chúng ta sẽ được diện kiến với chính là Đấng mà chúng ta tôn thờ. Ngài sẽ đón nhận chúng ta vào nhà Cha trên trời.

Nhớ rằng hành trang về nhà Cha không phải là vàng bạc châu báu ở đời, cũng không là danh vọng trần thế mà là bảo chứng của tình yêu. Bao nhiêu yêu thương chúng ta đã chia sẻ; bao nhiêu việc lành và phúc đức đã thực hiện; khi trở về cõi phúc, chúng ta phải chuẩn bị món quá quý báu dâng Chúa; Chúa không nhận của cải vật chất nhưng Chúa sẽ đón nhận một tâm hồn khắc khoải yêu thương. Chúa sẽ lấp đầy tình yêu trong trái tim rộng mở. Vui sướng biết bao khi được Chúa lại đến đón chúng ta về: Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó (Ga 14,3).

Tháng Các Linh Hồn là thời gian giúp chúng ta suy nghĩ về chính cuộc đời của mình. Cầu nguyện cho các linh hồn là chúng ta đang cầu nguyện cho chính chúng ta. Rồi một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ tới đích cùng của cuộc đời. Ngày đó đến bất chợt như chớp sáng loè từ chân trời này đến chân trời kia. Chúng ta không biết chính xác ngày giờ. Cách tốt nhất là chúng ta luôn trong tư thế chuẩn bị dầu đèn sẵn sàng. Ngày đó chắc chắn sẽ đến và sẽ là ngày vui mừng xum họp. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh là nguồn hy vọng duy nhất của cuộc lữ hành trần thế này. Chúa Kitô là Chúa của sự sống. Nước của Chúa là nước của kẻ sống. Chúng ta sẽ gặp nhau lại trong Nước của Chúa, nơi đó sẽ không còn khóc lóc, than van, sợ hãi, đau khổ và chia ly. Nước Chúa là nơi xum họp trong an vui hạnh phúc. Nơi đó không có từ ngữ Vĩnh Biệt mà là yêu thương hợp nhất.

Lạy Chúa, con suy tư về sự chết nhưng con vẫn sợ chết. Con muốn được tham dự bàn tiệc Nước Trời nhưng con không muốn dứt tiệc tùng nơi trần thế. Con muốn lên thiên đàng nhưng con lại cứ bám víu của cải trần gian. Con muốn làm điều tốt nhưng con lại cứ sa vào dịp tội. Cuộc lữ hành trần thế còn nhiều chông gai và thử thách. Chúng con vẫn tiếp tục được sống. Sự sống là quà tặng Chúa ban. Thiên Chúa có quyền quyết định số phận của mỗi người. Sự sống dài hay ngắn hoàn toàn nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng con xin vâng ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Chúng con chỉ biết dâng lời cảm tạ và ngợi khen Chúa đã cho chúng con sống ngày hôm nay trọn vẹn trong tình yêu của Chúa.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tình Bạn


TÌNH BẠN
Chia sẻ của Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt tại ĐHGT Giáo tỉnh Hà Nội


Các bạn trẻ thân mến,
Chào các bạn đến từ khắp nơi trong 10 giáo phận của giáo tỉnh Hà Nội. Chúng ta đang đứng giữa trời đất Quan Họ, nơi mà một nhạc sĩ đã diễn tả là 'một làn nắng cũng mang điệu dân ca'. Trước hết mời các bạn cùng nhau hát lên tình bạn của chúng ta qua bài Trống Cơm: Tình bằng có cái trống cơm...
Thú thật với các bạn tôi sinh ra trong giáo phận Bắc Ninh, nhưng cho đến ngày về Bắc Ninh năm 2008, chỉ hiểu biết rất sơ sài về văn hóa Quan Họ. Tôi đã phải học và hỏi nhiều người, nhiều nơi. Tôi đã đọc một số tác phẩm về Quan Họ Bắc Ninh. Đặc biệt tôi đọc gần 300 bài Quan Họ cổ. Và như thế, tôi đã phát hiện ra một di sản văn hóa của nhân loại ngay trên mảnh đất mình sống. Thực sự tôi đã ngỡ ngàng về cái hay cái đẹp trên đất Kinh Bắc, cái nôi của văn hóa Việt Nam.

Chúng ta thường nghĩ đến Quan Họ như những bài dân ca mượt mà, thắm thiết. Thật ra có cả một không gian văn hóa Quan Họ mà các bài dân ca là những diễn tả xuất phát từ trái tim người Quan Họ. Qua các bài hát Quan Họ cổ, tôi thấy trọng tâm là tình bạn. Hai Bọn Quan Họ, một nam một nữ từ hai làng kết nghĩa với nhau. Họ coi nhau như anh chị em ruột thịt, gọi nhau là liền anh, liền chị. Vì thế họ không kết hôn với nhau, chỉ sống với nhau bằng tình bạn. Cha mẹ của hai bọn coi tất cả bạn Quan Họ của con mình là con cái trong gia đình. Đã có vô số những bọn Quan Họ kết nghĩa như vậy. Họ đến với nhau, ca hát với nhau, chỉ để diễn tả tình bạn thâm sâu và trong sáng. Họ đón tiếp nhau trong trang phục đẹp, lịch sự. Họ chào đón nhau bằng tất cả trái tim chân thành. Rồi họ hát với nhau, theo kiểu đối đáp. Họ thường hát với nhau trọn một ngày, đôi khi mấy ngày liền, chỉ hát cho nhau nghe, không có khán giả, không có trình diễn. Như nhà thơ Nguyễn Khuyến nói: "Bác đến chơi đây ta với ta", nghĩa là chỉ có tình bạn.

Văn hóa Quan Họ đã có từ hơn ngàn năm. Đó là nơi những người nông dân chân lấm tay bùn bán mặt cho đất bán lưng cho trời: chính họ là tác giả. Đó là nơi diễn ra nhiều trận chiến, vì sát cạnh kinh đô Thăng Long. Dù vậy, trong Quan Họ, không có bóng dáng của sự vất vả, than vãn, tranh cãi, súng đạn, thù hận. Tất cả những gì là tính toán, giành giật, thô lỗ, hơn thua đều hoàn toàn xa lạ với văn hóa Quan Họ. Lời ca trong các bài Quan Họ. Người ta xưng hô với nhau là người, tôi, hay em. Chứa đựng trong những lời hát dung dị như thi vị là những tình cảm chân thành. Các liền anh liền chị Quan Họ quý mến nhau, tôn trọng nhau, nói với nhau bằng những từ ngữ tao nhã, ý nhị. Không có đổi chác, lọc lừa, nhờ vả, chỉ có tình bạn, một tình bạn vượt trên mọi cái nhỏ nhen, vượt qua mọi thứ rào cản của xã hội, để sống với nhau bằng trái tim với trái tim. Chúng ta có thể nghi ngờ là một cái nhìn như vậy hình như ngây thơ trước bao sóng gió của cuộc sống nhiều bon chen. Nhưng nói cho cùng có lẽ đó là mơ ước của mọi người, nhất là các bạn trẻ. Chính cái nhìn lạc quan ấy làm cho cuộc sống vốn nhiều gian nan có được những bông hoa tô điểm để mọi người thấy mặt đất này là một sân chơi của tình bạn và mở ra một hướng tiến cho những người cảm thấy mình 'đầu thai lầm thế kỷ'.

Trong Thánh Kinh, có một tình bạn thật đẹp giữa Gionathan và Đavít, giữa một hoàng tử và một chú bé chăn cừu. Khi vua cha là Saulê muốn giết Đavít, chính Gionathan đã dẫn đường cho Đavít trốn thoát. Khi Gionathan chết, Đavít đã khóc: "Gionathan, anh hỡi, lòng tôi se lại vì anh... Tình anh đối với tôi thật diệu kỳ hơn cả tình nhi nữ" (2 Sm 1,27). Một tình bạn không ranh giới, không tính toán thiệt hơn. Trong văn học dân gian Việt Nam có một tình bạn cũng thật đẹp giữa Lưu Bình và Dương Lễ. Trong tình bạn này, vai trò của Châu Long thật là tuyệt: trung thành với chồng và cũng vì hết lòng với chồng, lại hết lòng giúp bạn của chồng thi đỗ để làm quan. Một tình bạn không muốn bạn thua kém mình, nhưng cả hai cùng thành đạt.

Hai tình bạn trên đây có thể nói là rất Quan Họ. Ước gì chúng ta cũng biết sống với nhau Quan Họ như vậy, và giúp mọi người sống văn hóa Quan Họ, để mọi ngày chúng ta có những tình bạn trong sáng, thủy chung, nâng con người lên những tầm cao của cuộc nhân sinh. Trong tâm tình ấy, chúng ta cùng nhau hát lên tình bạn Chúa Giêsu đối với chúng ta và xin cho tình bạn ấy được mở rộng đến với mọi người.

Hãy nắm nắm tay nhau...
+ Cosma Hoàng Văn Đạt Giám mục Giáo phận Bắc Ninh

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

VÁC THÁNH GIÁ VỚI NIỀM VUI


“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3,16) 

Suy niệm: 
 Thánh giá trên nóc nhà thờ, ở giữa gian cung thánh, thánh giá trên bia mộ, trên bàn thờ gia đình, trên đôi tai của phái nữ… Ta làm dấu thánh giá trước mỗi cử hành đạo đức, trước và sau mỗi bữa ăn, cầu thủ làm dấu thánh giá trên sân cỏ… Dù ở đâu và lúc nào, thánh giá hay dấu thánh giá luôn được coi như một biểu tượng nói lên niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng chịu treo trên thánh giá để cứu độ nhân loại. Khi suy tôn, ca ngợi thánh giá, người Kitô hữu không ca ngợi đau khổ, nhưng ca ngợi tình yêu Thiên Chúa dành cho mình. Chúa Kitô không cứu ta bằng đau khổ, nhưng bằng tình yêu, tình yêu đi đến tận cùng, tình yêu hiến mạng. Cùng với thánh giá vàng, bạc, gỗ... hay dấu thánh giá ghi nơi thân xác, ta còn có một thánh giá vô hình khác đồng hành với ta suốt đường đời: thánh giá trong đời sống Chúa gởi đến mỗi ngày.

Mời Bạn: Vui vẻ vác thập giá theo Chúa mỗi ngày và nhận ra thập giá mỗi ngày ấy rất vừa khả năng của bạn. Bạn nhớ lời thánh Phanxicô Salêsiô: “Bánh xe ít dầu mỡ là bánh xe kêu to hơn hết. Người thiếu lòng nhân và đức nhẫn nại là người hay than vãn hơn cả.”

Chia sẻ: Tôi hay than vãn về loại thánh giá hằng ngày nào hơn cả?

Sống Lời Chúa: Tôi sẽ vui vẻ chu toàn việc bổn phận hằng ngày, coi đó như thánh giá Chúa thân ái gởi cho tôi.

Cầu nguyện: Lạy Cha, xin ban cho con điều khó hơn cả, đó là nhận ra thánh giá của Con Cha trong mọi nỗi khổ đau của đời con, và ơn bước theo Con Cha trên đường thánh giá, bao lâu tuỳ ý Cha định liệu. Amen.   (K.Rahner)

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

Mừng Kỷ Niệm 127 Năm Ngày Đức Mẹ Hiện Ra Tại Trà Kiệu





Hằng năm cứ đến tháng 9, con cái Mẹ Trà Kiệu, dù ở bất cứ nơi đâu cũng đều nhớ đến những ngày tháng đau thương, hải hùng của tổ tiên, cha ông ngày ấy.

Và nếu như ngày đó không có sự cứu giúp của Mẹ Maria thì Giáo xứ Trà Kiệu đâu còn nữa, và làm gì có Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu, nơi được nhiều khách hành hương khắp nơi tìm về kính viếng Mẹ. Quả thật là một Hồng Ân cao vời, mà tất cả chúng ta, con cái Trà Kiệu mãi mãi ghi lòng tạc dạ..Ngày đó tổ tiên chúng ta hân hoan vui mừng khôn kể xiết, các ngài đã quì trước Thánh tượng Mẹ mà không sao ngăn được nhưng dòng nước mắt vui mừng và sung sướng.


Ngày nay chúng ta nhớ về Hồng Ân của Mẹ, để Cám tạ tình yêu vô biên của Thiên Chúa, và tri ân Mẹ.

Tại Trà Kiệu, trong 2 ngày 10 và 11 tháng 9 này, Giáo xứ sẽ tổ chức MÔT ĐÊM TRI ÂN MẸ, qua việc đọc kinh lần hạt, mỗi gia đình sẽ tìm những bông hoa tươi đẹp nhất dâng lên Mẹ, rồi cung nghinh Mẹ. và MÔT ĐÊM CẢM TẠ TÌNH THƯƠNG VÔ BIÊN CỦA CHÚA, qua viêc hiệp dâng Thánh lễ và cung nghinh Thánh Thể.

Bên cạnh đó Giáo xứ cũng lược nhắc lại cho mọi người đôi dòng lịch sử để tưởng nhớ và lưu truyền cho con cháu mãi mãi nhớ đến Hồng Ân của Mẹ.

“Hôm đó, xế trưa ngày 1 -9-1885, quân Vân Thân thình lình kéo đến bao vây chung quanh Giáo Xứ Trà Kiệu.

Giáo dân Trà Kiệu hoảng sợ chạy đến nhà thờ xin Cha Quản xứ ban các phép sau hết, vì họ biết thế nào cũng phải chết. Cha Quản xứ và ông đội Phổ đã cố thuyết phục họ là phải cầu xin Chúa và Mẹ cứu giúp ,và cố tự vệ để may ra còn sống sót. Nhưng sau mấy ngày bị lực lượng đông đảo của quân Văn Thân tấn công tứ phía, Giáo dân Trà Kiệu khiếp sợ nên đề nghị xin đầu hàng. Ông đội Phổ lại 1 lần nữa xác quyết “ Thật là khốn nạn nếu chúng ta buông khí giới vì quân Văn Thân không đời nào cho chúng ta ra Đà Nẵng 1 cách an toàn. Ai muốn đi đàm phán thì đi đàm phán, còn chúng tôi , luôn luôn giữ chặt khi giới và phải chiến đấu cho đến cùng”.

Sau nhiều ngày tấn công nhưng bất thành, ngày 9-9-1885, Văn Thân xuống Điện Bàn kéo thần công về đặt trên hai đỉnh đồi Kim Sơn và Bửu Châu. Sáng ngày 10-9 họ bắt đầu nả đại pháo xuống nhà thờ, nhà xứ, với số đạn mà người ta đã bắn có thể vằm nát cả khu nhà thờ, nhà xứ . Nhưng lạ lùng thay nhà thờ không hề hấn gì cả.

Suốt ngày hôm đó, và cả ngày hôm sau,( 10 và 11 tháng 9 năm 1885) quân Văn Thân không ngừng kêu lên : “Thật lạ lùng, có 1 người đàn bà mặc áo trắng luôn đứng trên nóc nhà thờ, bà rất đẹp mà ta không sao bắn trúng”.

“Ngày hôm sau( 11/9) Văn Thân còn bắn phá ác liệt hơn, và cho cả quân tấn công vào phía Phước viện, sau lưng nhà thờ, và nổi lửa đốt Phước viện . Giáo dân bỏ Phước viện chạy về nhà thờ, nhưng các soeur Mến Thánh Giá rất dũng cảm đã xông vào dập lửa, trong lúc đó có đội nữ của các bà đến tiếp viện. Các bà hô tên cực trọng Ba Đấng Giêsu, Maria, Giuse, hè hè..rồi xông thảng vào Văn Thân, làm chúng khiếp sợ tháo chạy về phía đồi Kim Sơn

 Nỗi lo sợ lớn nhất của Cha quản xứ Bruyere là những khẩu đại pháo đặt ở đồi Kim Sơn, vì rất dể bắn sụp nhà thờ, nên Ngài chọn một ít thanh niên mạnh khỏe, can đảm để 3 giờ sáng ngày 12-9 bất ngờ tấn công lên Đồi Kim Sơn. Cuộc tấn công đó đã thành công, làm cho Văn Thân khiếp sợ bỏ chạy hết.

Cuộc chiến cứ thế kéo dài cho đến ngày 21-9 1885, thì giáo xứ Trà Kiệu mới tự giải thoát được.” (
Mời anh chị em xem hình ảnh về những ngày kỷ niệm 127 năm Đức Mẹ hiện ra tại Trà kiệu tại www.trakieu.net )

THỨ 4 SAU CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN

THỨ 4 SAU CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN NĂM CHẴN
1Cr 7,25-31 ; Lc 6,20-26

BÀI ĐỌC : 1Cr 7,25-31

            25 Thưa anh em, về vấn đề độc thân, tôi không có chỉ thị nào của Chúa, nhưng tôi chỉ khuyên nhủ anh em với tư cách là người -nhờ Chúa thương- đáng được anh em tín nhiệm. 26 Vậy tôi nghĩ rằng : vì những nỗi thống khổ hiện tại, ở vậy là điều tốt. Phải, tôi nghĩ rằng đối với người ta, như thế là tốt. 27 Bạn đã kết hôn với một người đàn bà ư ? Đừng tìm cách gỡ ra. Bạn chưa kết hôn với một người đàn bà ư ? Đừng lo kiếm vợ. 28 Nhưng nếu bạn cưới vợ, thì cũng chẳng có tội gì. Và nếu người con gái lấy chồng, thì cũng chẳng có tội gì. Tuy nhiên, những người ấy sẽ tự chuốc lấy những nỗi gian truân khốn khổ. Mà tôi, tôi muốn cho anh em thoát khỏi điều đó. 29 Thưa anh em, tôi xin nói với anh em điều này : thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay những người có vợ hãy sống như không có ; 30 ai khóc lóc, hãy làm như không khóc ; ai vui mừng, như chẳng mừng vui ; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả ; 31 kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi.

ĐÁP CA : Tv 44

Đ.        Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào, đưa mắt nhìn và hãy lắng tai(c 11a)

11 Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào,đưa mắt nhìn và hãy lắng tai,quên dân tộc, quên đi nhà thân phụ.12 Sắc nước hương trời, Quân Vương sủng ái, hãy vào phục lạy : “Người là Chúa của bà.”
14 Đẹp lộng lẫy, này đây công chúa, mặc xiêm y dệt gấm thêu vàng, 15 phục sức huy hoàng, được dẫn tới Quân Vương, cùng các trinh nữ theo sau hầu cận.
16 Lòng hoan hỷ, đoàn người tiến bước, vẻ tưng bừng, vào tận hoàng cung. 17 Con cái ngài sẽ nối dòng tiên đế, ngài phong làm vương bá khắp trần gian.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Lc 6,23ab

            Hall-Hall : Chúa nói : Anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Hall.

TIN MỪNG : : Lc 6,20-26

            20 Bấy giờ Đức Giê-su dừng lại ở một chỗ đất bằng . Nơi đây có đông đảo dân chúng tìm đến với Người. Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói:

"Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. 21 "Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. "Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc,vì anh em sẽ được vui cười. 22 "Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa.23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.

                  24 "Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.25 "Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói."Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.26 "Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.”

SỐNG MỐI PHÚC NGHÈO CỦA TIN MỪNG

            Ta biết ý niệm “núi” trong Tin Mừng Matthêu chỉ riêng về Hội Thánh Chúa Kitô :

  • Đức Giêsu thắng quỷ trên núi (x Mt 4,8t).
  • Đức Giêsu ban Hiến Chương Nước Trời  trên núi (x Mt 5,1t).
  • Đời sống người Kitô hữu như thành trì xây trên núi (x Mt 5,14).
  • Đức Giêsu biểu lộ vinh quang Phục Sinh cho các môn đệ thấy trước ở trên núi (x Mt 17).
  • Đức Giêsu bị giết trên núi Sọ (x Mt 27,33).
  • Từ trên núi, Chúa Giêsu Phục Sinh sai các môn đệ đi khắp thế gian tập họp môn đệ cho Ngài (x Mt 28,16t).

Do đó, Hiến Chương Nước Trời theo thánh sử Matthêu ghi cho độc giả của ông là người Do Thái, thì Đức Giêsu gọi các môn đệ lên núi nghe Ngài dạy (x Mt 5,1-12), tức là trong đời sống Hội Thánh, ai muốn được Chúa chúc phúc, thì tiên quyết phải có “tinh thần nghèo khó”, tức là phải khao khát Chân Lý của Đức Giêsu đưa đến, chứ không tự mãn vào việc giữ Luật Môsê mà tưởng rằng mình đã nên công chính!

Trong khi đó vì các độc giả của Tin Mừng Luca là người Hy Lạp, dân ngoại, nên ông Luca không ghi Đức Giêsu lên núi giảng, mà lại ghi “Đức Giêsu dừng lại ở một chỗ đất bằng, nơi đó có đông đảo dân chúng đến với Ngài, và Ngài ngước mắt nhìn các môn đệ rồi lên tiếng dạy”. Như thế, Đức Giêsu muốn dạy muôn dân qua đời sống các môn đệ đã từ bỏ mọi sự mà theo Đức Giêsu, để nên giống Ngài, vì “Ngài vốn dĩ là Đấng giàu có mà đã trở nên nghèo khó vì hết thảy chúng ta, để chúng ta được giàu có nhờ sự nghèo khó của Ngài” (2Cr 8,9). Do đó bất cứ ai muốn được Đức Giêsu chúc phúc, phải sống nghèo theo mẫu gương các Tông Đồ (x Lc 6,20 : Tin Mừng). Mà ai muốn được giàu có để có phương tiện phục vụ, thì cả cuộc đời phải cần cù làm việc, giới hạn nhu cầu thân xác, đó là cách sống nghèo về vật chất, để được giàu có về lòng nhân ái như Chúa Giêsu. Vì thế thánh Tông Đồ lên tiếng dạy : “Từ nay những người có vợ hãy sống như không có ; ai khóc lóc, hãy làm như không khóc ; ai vui mừng, như chẳng mừng vui ; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả ;  kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi” (1Cr 7,29b-31 : Bài đọc năm chẵn). Và thánh Tông Đồ cho ý kiến riêng, không phải là Luật Chúa truyền, nhưng được nhiều người trân trọng, ông nói : “Về vấn đề độc thân, tôi không có chỉ thị nào của Chúa, nhưng tôi khuyên nhủ anh em với tư cách là người – nhờ Chúa thương – đáng được anh em tín nhiệm. Vậy tôi nghĩ rằng : Vì những nỗi thống khổ hiện tại, anh em hãy sống độc thân là điều tốt. Phải, tôi nghĩ rằng đối với người ta, như thế là tốt. đừng lo kiếm vợ, nhưng nếu bạn cưới vợ thì cũng chẳng có tội gì. Và nếu người con gái lấy chồng thì cũng chẳng có tội gì. Tuy nhiên, những người ấy sẽ tự chuốc lấy những nỗi gian truân khốn khổ. Mà tôi, tôi muốn cho anh em thoát khỏi điều đó”(1Cr 7,25-28 : Bài đọc năm chẵn).

Ai biết sống nghèo vì Tin Mừng, thì được Chúa Giêsu chúc phúc : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. "Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. "Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc,vì anh em sẽ được vui cười. "Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” .

Nói tắt : NGHÈO thì ĐÓI, đói thì KHÓC, khóc bị GHÉT! Như thế là nói kiểu toán học : Ai sống nghèo vì Tin Mừng thì phúc lộc gia tăng cấp số nhân, hay mối Phúc này làm gia tăng mối Phúc kia, tạo nên sự cộng hưởng các mối Phúc. Đức Giêsu nói : “Đó là những ngôn sứ thật đã bị cha ông các ngươi đối xử như thế” (Lc 6,20-23 : Tin Mừng).

Vào dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức tại Ý, có trên hai triệu bạn trẻ khắp nơi trên thế giới tụ về, đều một trái tim, một lòng mến. Trước hấp lực này, ông Măng-cu-xô mới 34 tuổi đang giữ chức Thị trưởng thành phố Phi-ra-ca. Phải nói ông là một người tài năng và đầy hứa hẹn vinh quang trong chức vụ. Thế mà ông đã từ bỏ xin đi tu. Rõ ràng ông đã nhận ra giá trị mối phúc nghèo được Đức Giêsu đề cao trong Tin Mừng hôm nay.

Đối với những kẻ chỉ lo hưởng thụ, chắc chắn sẽ bị nguyền rủa! Đức Giêsu lên tiếng : “Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. "Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. "Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than. "Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng” .

            Nói tắt : GIÀU thì NO, no thì CƯỜI, cười được KHEN! Như thế mối Họa này làm gia tăng mối Họa kia,và đó là tác động cộng hưởng các mối Họa! Đức Giêsu nói : “Các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế” (x Lc 6,24-26 : Tin Mừng).

Vì vậy thánh Tông Đồ khuyên : “Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Giêsu Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới nơi Đức Giêsu Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chủ tâm vào những gì thuộc hạ giới. Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc hạ giới trong con người anh em : ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam ; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng. chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống trên những kẻ không vâng phục. chính anh em xưa kia cũng ăn ở như thế, nên hãy từ bỏ tất cả những cái đó : và đừng giận dữ, nóng nảy, độc ác, ăn nói thô tục. Anh em đừng nói dối nhau, vì anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người đã được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa để được ơn thông hiểu. Vì chỉ có Đức Giêsu Kitô là tất cả và ở trong mọi người” (Cl 3, 1-11 : Bài đọc năm lẻ).

Ai sống những đòi hỏi của Lời Chúa trong Thánh Lễ hôm nay mới xứng đáng là người giống Đức Giêsu, để được lãnh phúc lành của Ngài. Vì “Chúa tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145/144,9b : ĐC năm lẻ).

Mỗi người Kitô hữu hãy nhớ mình là Hiền Thê của Tân Lang Giêsu từ lúc lãnh Bí tích Thánh Tẩy (x 2Cr 11,2). Vợ thì phải nghe lời chồng. Đúng như lời kinh : “Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào, đưa mắt nhìn và hãy lắng tai” (Tv 45/44,11a : ĐC năm chẵn). Có lắng tai nghe Lời Tân Lang Giêsu và đem ra thực hành, mới được Chúa thực hiện Lời Ngài hứa : “Anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Lc 6,23ab : Tung Hô Tin Mừng).

Truyện kể :

Một người phụ nữ sống độc thân, bà sống bằng việc nhặt rau người ta bỏ lại sau buổi chợ, đưa về làm dưa bán. Ngày nào bà cũng bận rộn vì đợi chợ tan, bà lượm lặt rau đưa về nhà, rồi bà lựa ra từng loại mãi đến nửa đêm mới xong việc. Sáng sớm khi trời còn tối, bà đã gánh hàng ra chợ bán, nên không còn giờ đi dự Lễ, cùng lắm miễn cưỡng đi Lễ Chúa nhật vì sợ tội. Bà cứ sống như thế trong suốt 40 năm, tích góp mua được một số vàng cất giấu. Khi chôn vàng ở đâu, bà đều ghi vào quyển sổ riêng để nhớ. Đêm nọ, sau khi đã dọn hàng xong, bà lấy quyển sổ ra xem tài sản mình được bao nhiêu và để ở những chỗ nào, bà lấy làm đắc tâm vì có một tài sản lớn. Quá buồn ngủ, bà thiếp đi, để rơi quyển sổ xuống đất. Đêm ấy thần chết đến lôi bà ra khỏi thế gian, khu xóm không ai biết. Một tuần lễ sau khu xóm ai cũng ngửi thấy mùi hôi thối, bảo nhau chạy đến xem chuyện gì, thì thấy cửa nhà bà đã bị cạy, vào nhà ai cũng thấy đồ đạc đã có người thu dọn từ lúc nào, và bốn chân giường đã có ai đào bới! Vì xác bà đã trương thối, nên người ta báo cho chính quyền. Dĩ nhiên xác bà không được đưa vào Nhà Thờ vì quá nặng mùi, nên phải vội đưa đi thiêu. Chẳng có mấy người đi theo quan tài, chỉ có con chó còn trung thành với chủ. Thời gian sau, người cháu biết tin bà mất, anh ta đến nói với mọi người rằng : “Bác tôi có một quyển sổ thường ghi tài sản và những nơi chôn giấu vào đó!” Lúc ấy người ta mới hiểu kẻ cậy cửa lẻn vào nhà trước đã lượm được quyển sổ ghi tàn sản của bà chôn giấu ở đâu, nó đã phỗng mất!

Đúng là “ki cóp cho cọp nó tha!” Vì thế thánh Phaolô dạy : “Chúng ta đã không đưa gì vào trần gian, thì cũng chẳng mang gì ra được. Nếu có cơm ăn áo mặc, hãy lấy thế làm đủ, còn những kẻ muốn làm giàu thì sa chước cám dỗ, sa vào cạm bẫy và nhiều ước muốn ngu xuẩn độc hại”  (1Tm 6,7-9).

THUỘC LÒNG

            Làm sao anh em phải giàu có như Đức Giêsu, mà vì chúng ta Ngài đã trở nên nghèo khó để chúng ta được giàu có vì sự nghèo khó của Ngài (2Cr 8,9).

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Thuy Nga Lien Khuc Tinh Collections DVDrip

Thuy Nga Lien Khuc Tinh Collections DVDrip 

Thế Giới Nhìn Từ Vatican 24-31/08/2012



1. Buổi triều yết chung thứ Tư 29 tháng 8

Lúc 10h30, sáng thứ Tư 29 tháng Tám, tại biệt điện mùa hè ở Castel Gandolfo, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã trình bày những suy tư của ngài về Thánh Gioan Tẩy Giả và việc tử đạo của ngài mà Giáo Hội kính nhớ vào ngày 29 tháng Tám hàng năm. Đức Thánh Cha nói:

Tôi chào đón nồng nhiệt tất cả các tín hữu hành hương và du khách nói tiếng Anh, đặc biệt là những người đến từ Anh, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản và Malta.

Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ việc tử đạo của Thánh Gioan Tẩy Giả là vị Thánh mà chúng ta cử hành ngày sinh nhật của ngài vào ngày 24 tháng Sáu. Thánh Gioan đã hiến mình hoàn toàn cho Chúa Kitô, bằng cách dọn đường cho Ngài thông qua việc rao giảng sự thống hối, dẫn dắt dân chúng đến với Chúa khi Ngài xuất hiện và đã hiến mạng sống mình làm giá hy sinh tột cùng.

Anh chị em thân mến, chúng ta có thể noi gương Thánh Gioan bằng cách để cho Chúa Kitô tiến vào mỗi một phần của cuộc sống chúng ta để rồi chúng ta có thể mạnh dạn rao giảng Chúa cho thế giới. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!

2. Đức Thánh Cha giải thích sự hoài nghi đã hình thành trong Giu-đa như thế nào

Trưa Chúa Nhật 26 tháng Tám, Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 đã đọc kinh Truyền Tin với các tín hữu điạ phương và khách hành hương tụ tập tại quảng trường thị trấn Castel Gandolfo.

Tiếp tục loạt bài về “Bánh Hằng Sống” đã được trình bày từ Chúa Nhật tuần trước, Đức Thánh Cha nói rằng một số người theo Chúa đã lìa bỏ Ngài vì những lời họ cho là chói tai.

Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 nói:

Chúa Giêsu phán: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn thịt ta và uống máu ta sẽ sống muôn đời”. Mặc khải này như tôi đã đề cập đã trở nên khó hiểu với họ vì họ hiểu điều ấy theo phương diện vật chất.

Các thánh Tông Đồ đã chọn ở lại với Chúa Giêsu. Nhưng, câu nói này của Chúa Giêsu đã tạo ra những hoài nghi trong Judas mà cuối cùng đã dẫn đến sự phản bội của ông.

Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 nói:

"Vấn đề là Giu-đa đã không bỏ đi, và sai lầm nghiêm trọng nhất của Giu-đa là sự dối trá, đó là dấu hiệu của ma quỷ."

Đức Thánh Cha giải thích rằng: “Chúa Giêsu biết rằng ngay cả trong 12 Tông Đồ, có một người không tin, đó là Giu-đa. Lẽ ra cả Giu-đa cũng có thể bỏ đi, như nhiều môn đệ khác; đúng hơn, giả sử ông ta là người lương thiện thì đã bỏ đi rồi. Trái lại ông vẫn ở lại với Chúa Giêsu. Ông ở lại không phải vì tin, cũng chẳng vì yêu mến, nhưng với chủ đích thầm kín là để trả thù Thầy. Tại sao? Vì Giu-đa cảm thấy bị Chúa Giêsu phản bội, và ông phản bội lại Ngài. Giu-đa vốn là người theo phái Zelote, và muốn có một Đức Messia chiến thắng, hướng dẫn cuộc nổi loạn chống lại người La Mã. Nhưng Chúa Giêsu đã làm cho những mong đợi này bị thất vọng. Vấn đề là Giu-đa không bỏ đi, và lỗi nặng nhất của ông ta là sự gian trá, vốn là dấu hiệu của ma quỷ.

Và Đức Thánh Cha kết luận rằng: “Chúng ta hãy cầu xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta tin nơi Chúa Giêsu, như thánh Phêrô, và luôn thành thực với Chúa và với tất cả mọi người.”

3. Thánh Jose de Calazanz: vị sáng lập trường đầu tiên miễn phí cho người nghèo

Đây là căn phòng nhỏ của Thánh Jose de Calasanz, vị linh mục Tây Ban Nha và đồng thời là một nhà giáo dục. Thánh nhân chào đời năm 1556 và vào lúc cuối đời, ngài đã sáng lập Dòng Pious, một dòng chuyên lo về giáo dục.

Hơn 400 năm trước đây, ngài đã thành lập ngôi trường đầu tiên miễn phí cho trẻ em nghèo ở châu Âu. Tại đây, trong căn phòng này, ngài đã sống 36 năm cuối cùng của ngài trước khi qua đời năm 1648 ở tuổi 91. Căn phòng đã được khóa lại bảo quản cho đến khi ngài được phong chân phước 100 năm sau đó. Sợi dây này, vẫn còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn, đã được ngài sử dụng lúc về già, như một công cụ để di chuyển xung quanh.

Cha Adolfo Garcia-Duran DE LARA cho biết:

"Khi ngài qua đời, ngay cả những người bức hại ngài cũng phải thốt lên rằng, “ông ấy sẽ là một vị thánh.” Phòng của ngài đã bị khóa và kể từ đó, không ai khác đã sống ở đó. Nó vẫn không thay đổi. Mọi thứ thuộc về ngài cũng được lưu trữ"

Từ các đồ nội thất, trần nhà, cửa sổ và sàn nhà đều được giữ nguyên thủy. Trong thực tế, một số vật dụng cá nhân của ngài còn nguyên vẹn chẳng hạn như mắt kính, sách cầu nguyện, chén thánh và mũ của ngài. Ngay cả cây bút bạc và dấu ấn mà ngài đã sử dụng để viết hàng ngàn lá thư.

Cha Adolfo Garcia-Duran DE LARA cho biết thêm

"Chúng tôi có khoảng 5000 bức thư do ngài viết. Ngài đã lãnh đạo nhà dòng từ văn phòng này. "

Truyền thống nói rằng Đức Trinh Nữ đã từng hiện ra với ngài trong căn phòng này.

Dòng Pious được biết đến như là dòng đầu tiên có lời khấn thứ tư cho giáo dục và giảng dạy.

4. Phát ngôn viên Tòa Thánh, cha Federico Lombardi tròn 70 tuổi

Giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh, là phát ngôn nhân của Đức Thánh Cha, vừa tròn 70 tuổi vào ngày 29 tháng 8. Ít ai biết rằng ngoài việc là một nhà thần học và triết học, vị linh mục Dòng Tên này cũng là một nhà toán học. Ngài đã làm việc trong ngành truyền thông hơn 30 năm qua.

Những hình ảnh quý vị đang thấy đây là phiên họp đầu tiên của cha Federico Lombardi với các ký giả chỉ vài giờ sau khi ngài được Đức Thánh Cha bổ nhiệm là phát ngôn viên Tòa Thánh.

Cha Federico Lombardi đã giới thiệu về mình với các ký giả như sau:

"Khởi đầu tôi làm việc với các tòa báo, cụ thể với tạp chí Civilta Cattolica , sau đó với đài phát thanh và Trung tâm Truyền hình Vatican. Tôi đã học được các lãnh vực khác nhau của truyền thông. Bây giờ, ở tuổi 65, tôi đã được yêu cầu là phát ngôn viên. Tôi sẽ cố gắng học nhiệm vụ mới này. "

Trong sáu năm qua, ngài đã phải trả lời những câu hỏi khó khăn, trong những tình thế rất phức tạp.

Lần đầu tiên là cuộc khủng hoảng quan hệ quốc tế nổ ra sau bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng tại Regensburg, bên Đức, đã gây ra những phản ứng dữ dội của một số bộ phận trong thế giới Hồi giáo. Một vài tháng sau đó, đến biến cố Đức Giáo Hoàng cầu nguyện trong Đền Xanh là một ngôi nhà thờ hồi giáo tại thủ đô Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ, với mong muốn làm dịu căng thẳng giữa Công Giáo và Hồi Giáo.

Cuộc khủng hoảng mới nhất là vụ Vatileaks. Trong các cuộc họp báo, cha Federico Lombardi đã tài tình giải đáp về các tài liệu bị đánh cắp từ Đức Giáo Hoàng. Ngài thậm chí còn nói đùa với các ký giả rằng ngài hiện diện để giải quyết các tin đồn hơn là những vấn nạn liên quan đến một phát ngôn viên.

Có lẽ một trong những đặc tính nổi bật của ngài là tính linh hoạt, nhạy bén, và khiếu khôi hài. Bên cạnh chức trách là giám đốc Văn phòng báo chí Tòa Thánh, ngài cũng là giám đốc của Trung tâm Truyền hình Vatican và Đài phát thanh Vatican, cũng như là một trong bốn linh mục dòng Tên chịu trách nhiệm chăm sóc cho vị bề trên Tổng Quyền thay mặt cho các thành viên của Dòng trong chức vụ "ad providentiam" nghĩa là Phụ Tá.

5. Cựu quản gia Phủ Giáo Hoàng dưới thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị thay thế Paolo Gabriele

Trong suốt mùa hè vừa qua tại Castel Gandolfo, người ta thấy một gương mặt quen thuộc đã từng đi bên cạnh Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị nay hiện diện bên cạnh Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16. Đó là ông Angelo Gugel là người quản gia Phủ Giáo Hoàng dưới thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị.

Thực ra, ông Angelo Gugel cũng đã từng làm việc cho Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 cho đến năm 2006, trước khi Paolo Gabriele, người hiện đang bị truy tố trong vụ Vatileaks, thay thế ông.

6. Ghi danh tham dự ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio De Janeiro

Kính thưa quý cha, quý tu sĩ nam nữ và anh chị em,

Ngày 28 tháng Tám vừa qua, Ủy Ban Tổ Chức ngày Quốc Tế Giới Trẻ 2013 của Brazil đã chính thức nhận đơn ghi danh tham dự. Như các lần Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ trước đây VietCatholic đã ghi danh là cơ quan truyền thông tại Rio De Janeiro.

Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ là một biến cố lớn trong đời sống Giáo Hội và có ý nghĩa đặc biệt đối với giới trẻ. Tuy nhiên, không phải tất cả các bạn trẻ đều có khả năng tham dự, đặc biệt là trong trường hợp các nước nghèo như Việt Nam. Chính vì thế, công tác quảng bá các hoạt động trong Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ là quan trọng và góp phần nhân rộng các thành quả của ngày Quốc Tế Giới Trẻ.

Chính vì thế chúng tôi mời gọi quý cha, quý tu sĩ nam nữ và anh chị em tích cực tham gia trong công tác truyền thông Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ Rio De Janeiro sẽ diễn ra từ ngày 23 tháng 7 đến 28 tháng 7 năm tới.

Quý cha, quý tu sĩ nam nữ và anh chị em có thể đến được Rio De Janeiro xin ghi danh làm việc tại Trung Tâm Báo Chí Quốc Tế. Trường hợp quý cha, quý tu sĩ nam nữ và anh chị em không thể đến được Brazil chỉ cần ngồi ở nhà cũng có thể tham dự tích cực vào biến cố này. Thật vậy, phòng báo chí Tòa Thánh sẽ gởi các tài liệu như tin tức và các diễn từ của Đức Thánh Cha cũng như của các vị bản quyền địa phương đến quý cha, quý tu sĩ nam nữ và anh chị em vài giờ trước khi các biến cố xảy ra. Xin giúp chúng tôi dịch ra Việt Ngữ.

8. Thủ tướng Ý nói về cuộc khủng hoảng nợ tại Âu Châu với Đức Giáo Hoàng

Thủ tướng Ý Mario Monti đã viếng thăm Đức Giáo Hoàng tại nơi cư trú mùa hè ở Castel Gandolfo. Hai vị đã đàm đạo gần một giờ trong buổi chiều thứ Hai 27 tháng 8.

Hai vị đã đề cập đến các chủ đề như môi trường chính trị và kinh tế của châu Âu. Hai vị cũng đã bày tỏ quan tâm sâu xa đến tỷ lệ thất nghiệp của thanh thiếu niên trên toàn Âu Châu cũng như cách thức làm sao những người trẻ có thể giúp cải thiện văn hóa Âu Châu.

Thủ tướng Monti đã trao đổi quà tặng với Đức Giáo Hoàng và Đức Hồng Y Tarcisio Bertone là Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.

Kể từ khi nhậm chức hồi cuối tháng mười một, thủ tướng Monti đã đưa ra các cải cách sâu rộng nhằm kiểm soát khủng hoảng nợ nần của Ý. Ông sẽ có cuộc gặp gỡ với thủ tướng Đức Angela Merkel và tổng thống Pháp Francois Hollande trong tuần tới để thảo luận về cuộc khủng hoảng nợ nần Châu Âu.

9. Đức Thánh Cha chia buồn với các nạn nhân vụ nổ nhà máy lọc dầu tại Venezuela

Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 chia buồn với các nạn nhân vụ nổ nhà máy lọc dầu ở Amuay bên Venezuela.

Trong điện văn nhân danh Đức Thánh Cha gửi đến Đức Cha Diego Rafael Padrón Sánchez, Tổng Giám Mục giáo phận Cumaná, kiêm Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Venezuela, hôm 28 tháng 8, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, cho biết Đức Thánh Cha rất đau buồn khi hay tin vụ nổ nhà máy lọc dầu ở Amuay, bang Falcón, làm cho nhiều người chết và bị thương, thiệt lại lớn lao về vật chất. Ngài cầu xin Chúa ban ơn an nghỉ đời đời cho những người thiệt mạng, đồng thời bày tỏ sự gần gũi những người bị thương cũng như tất cả những người bị thiệt hại và thân nhân của họ.

Đồng thời Đức Thánh Cha cũng khuyến khích tất cả cộng đồng dân sự, trong tinh thần bác ái và liên đới Kitô, trợ giúp cần thiết cho những người bị mất gia cư và tài sản.

Nhà máy lọc dầu ở mạn đông bắc Venezuela bị nổ hôm thứ bẩy, 25 tháng 8 làm cho hơn 40 người thiệt mạng, 6 người bị mất tích, 80 người bị thương

10. Đức Thánh Cha sẽ đến Li Băng bất chấp những nguy hiểm.

Mặc dầu có những khó khăn về chính trị tại Trung Đông, Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 sẽ đi Li Băng như đã trù liệu, từ ngày 14 đến 16 tháng 9, 2012. Nước Li Băng đã sẵn sàng để đón tiếp Đức Thánh Cha. Chuyến viếng thăm của ngài là một niềm hy vọng về hoà bình cho tất cả mọi người dân Li Băng, Kitô giáo cũng như Hồi giáo.

Đây là điều Đức Giám Mục Kamil Zeidan, chủ tịch Uỷ Ban trung ương phụ trách tổ chức chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16, tuyên bố trong một buổi họp báo tại Beirut, ngày 22 tháng 8, 2012, được đài Radio Vatican truyền đi.

Đức Giám Mục Zeidan khẳng định: Chuyến viếng thăm do lời mời chính thức của Tổng Thống Cộng Hòa Li Băng "được tất cả mọi người dân Li Băng, Kitô giáo và Hồi giáo chú tâm, không riêng gì những người Công Giáo.

Ngài đã xác định là có hai ủy ban được thành lập để đón tiếp Đức Thánh Cha : một Uỷ Ban thuộc Hội Đồng Giám Mục và uỷ ban kia gồm các đại diện của chính phủ Li Băng.

Đức Giám Mục Zeidan tâm sự: Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha sẽ được thực hiện "mặc dầu có những khó khăn về chính trị trong miền, các khó khăn này đã khiến cho Đức Thánh Cha càng quyết định thực hiện chuyến đi này, trong niềm hy vọng giúp đỡ Li Băng và toàn miền phục hồi được nền hoà bình và an ninh."

Cần nhắc lại là chuyến đi này sẽ là dịp để Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 ký Tông Huấn Hậu-Thượng Hội Đồng Giám Mục Trung Đông.

Đức Giám Mục Zeidan cho biết là chiếc papamobile của Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 đã được chở tới Li Băng từ ngày 22 tháng 8: qua đường biển và đã được Đức Tổng Giám Mục Gabriele Giordano Caccia, khâm sứ Tòa Thánh tại Li Băng tiếp nhận, và được lưu trữ tại Dinh Tổng Thống tại Baabda, về phía đông nam Beyrouth.

Đức Giám Mục Zeidan kết luận: "Chúng tôi đã sẵn sàng để đón tiếp Đức Thánh Cha. Chúng tôi cầu nguyện và hy vọng là chuyến đi này sẽ là một mùa xuân thực sự cho Li Băng và cho toàn miền, cũng như cho tất cả mọi người Kitô giáo và Hồi giáo."

11. Đức Gioan Phaolo I có thể được phong chân phước trong vòng 3, 4 năm

Đức Gioan Phaolô I, vị giáo hoàng với triều Giáo Hoàng ngắn nhất chỉ có 33 ngày, có thể được phong chân phước trong vòng 3 hoặc 4 năm tới đây.

Trên đây là lời tuyên bố của cha Giorgio Lise, Phó Thỉnh nguyện viên án phong chân phước cho Đức Gioan Phaolô I, với Đài truyền hình Công Giáo TV2000 ở Italia hôm 26 tháng 8.

Năm nay là kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của Đức Cố Giáo Hoàng (1912-2012), tục danh là Albino Luciani và ngày 26 tháng 8 là kỷ niệm 34 năm ngài được bầu làm Giáo Hoàng (26-8-1978). Ngài qua đời đột ngột ngày 28-9-1978.

Cha Lise cũng loan báo: vào ngày 17 tháng 10 sắp tới, tập hồ sơ đúc kết, gọi là Positio, về cuộc sống, hoạt động và chứng tá của Đức Gioan Phaolô I sẽ được hoàn thành. Sau đó 9 chuyên gia của Bộ Phong thánh sẽ cứu xét để cho ý kiến, rồi Hội đồng Hồng Y của Bộ Phong Thánh sẽ nhóm họp để quyết định xem vị Tôi Tớ Chúa có thực hành các nhân đức đến mức độ anh hùng hay không.

Nếu các nhân đức này được xác nhận, thì án phong còn cần phải có một phép lạ được chứng thực. Cha Giorgio Lise cho biết hồ sơ về vấn đề này cũng đã được chuẩn bị sẵn sàng; đó là vụ khỏi bệnh lạ lùng của một nhân viên ngân hàng ở thành phố Altamura, nam Italia. Ông bị ung thư bao tử và đã cầu xin ĐGH Gioan Phaolo I cứu giúp và đã được lành bệnh sau đó.

Án phong chân phước cho Đức Gioan Phaolo I đã được khởi sự hồi tháng 11 năm 2003 tại giáo phận nguyên quán của ngài, là giáo phận Belluno-Feltre thuộc miền Veneto, đông bắc Italia. Giai đoạn điều tra ở cấp giáo phận được hoàn thành hồi tháng 11-2006 và toàn bộ hồ sơ được gửi về Bộ Phong Thánh ở Roma để tiếp tục cứu xét.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I sinh ngày 17-10-1912 tại Canale di Agordo thuộc vùng núi Dolomiti. Ngài làm Giám mục giáo phận Vittorio Veneto từ 1958 đến 1969, rồi làm Thượng Phụ (TGM) giáo phận Venezia, trước khi được bầu làm Giáo Hoàng kế nhiệm Đức Phaolô 6. Tuy triều đại của ngài ngắn ngủi, chỉ có 33 ngày, nhưng ngài đã thu phục được thiện cảm của dân chúng, và được gọi là ”Vị Giáo Hoàng tươi cười”