Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

Suy niệm Lời Ngài Chúa Nhật thứ 17 Thường Niên Năm B 29.7.2012

“Khua ánh trăng xanh động khí trời.” (dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

“Hãy quỳ nán lại: tiếng sao rơi,”
“Khua ánh trăng xanh động khí trời.”
(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Ga 6: 1-15
Quỳ nán lại để khua trăng, là động thái nhà thơ kêu gọi khiến sao rơi, động khí trời. Quỳ nán lại làm trời động, là tâm tình nhà Đạo có Chúa ban “Bánh Hằng Sống” như trình thuật mô tả hôm nay, mai rày.
Trình thuật thánh Gioan, nay tả về Tiệc Thánh nơi chương 6 Tin Mừng. Ở chương này, thánh sử ghi lại những bốn phần. Phần đầu, là dẫn nhập một tư duy về “Bánh Sự Sống” theo nghĩa được kể ở Thánh Kinh người Do thái vẫn đọc. Phần kế tiếp, đi vào mầu nhiệm với ý nghĩa Chúa cho đi chính mình Ngài, vì mọi người. Phần kết cuộc, hỏi xem ta có tin chuyện đó không, vẫn là điều luôn rất cần. Cả bốn phần Tin Mừng nay liên kết bốn mốc điểm phụng vụ Tiệc ta hiện thực, gồm: nhập lễ, phụng vụ Lời, Phụng vụ Tiệc hiệp thông rước Chúa và kết thúc bằng việc Chúa sai mọi người ra đi, vì Nước Trời.
Khởi đầu phụng vụ, cộng đoàn thầm lặng cử hành niềm vui cận kề có Chúa ngự. Bởi, tham dự Tiệc là sự kiện dân con Chúa đến với nhau với niềm an vui kề cận. Có thế người dự mới sống đời người có tương lai ngời sáng chốn mai ngày. Cùng đến với nhau mà dự Tiệc, để cảm nghiệm Đức Kitô Đấng đã trỗi dậy trong ta và với ta. Ở đây. Bây giờ. Dự Tiệc cận kề bên nhau, để biến đổi cuộc đời thật đúng cách, đạt kết quả khả quan, đẹp đẽ. Ở bên nhau mà Dự Tiệc, không là cách thức Hội thánh dùng dấu chỉ hoặc ngôn ngữ đầy biểu trưng, nhưng cố để nguyện cầu hiệp thông có Chúa ở với ta. Tham dự Tiệc, còn là nghi thức của phụng vụ hiệp thông có thi ca, có cả tâm hồn nghệ sĩ đến nhận bài sai Chúa vẫn gửi.
Phụng vụ Tiệc, khởi sự bằng nghi thức nhập định dẫn đưa người dự ra khỏi cảnh trí cuộc đời người để rồi người người sẽ đi vào cảm nghiệm sâu sắc rất thánh-hoá. Cảm nghiệm ở bên nhau, và với nhau theo lời mời của Đức Chúa. Tham dự phụng vụ Tiệc Thánh, không đơn thuần chỉ cử hành lễ tế thầm lặng/tư riêng chỉ dành cho linh mục chủ tế, mà là động thái trải rộng cho dân con Chúa đến tập họp. Phụng vụ Tiệc, là bài thơ vui khuyến khích mọi người cất tiếng ca lời đoàn tụ rất vui vầy, đầy sức sống.
Phụng vụ Tiệc, là nhạc bản rất ý nhị không chỉ do chủ tế hoặc ca đoàn trổi lên hát một mình, nhưng cả cộng đoàn là dàn nhạc có vị chủ tế tuy không hát cũng chẳng sử dụng nhạc cụ nào hết, nhưng lắng nghe âm giọng sâu sắc chan hoà điệu hát thành giao-hưởng-khúc rất hài hoà, súc tích. Theo cách thế này, chủ tế có vai trò khiến cho Tiệc đoàn tụ nên sống động, cả về tinh thần lẫn thính thị.
Khởi đầu Tiệc, người tham dự hân hoan tiến vào thánh đường chào mừng hết mọi người, chứ không chỉ mỗi chủ tế và đoàn tuỳ tùng thừa tác, giúp lễ. Các vị này chỉ đại diện cộng đoàn đến để cử hành Lễ/Tiệc chứ không là nhân vật then chốt của Tiệc mang nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, các vị trong đoàn bước lên bàn Tiệc ở trên cao có Đấng Thánh Hiền đợi chờ thực hiện Giao ước Tình Thương giữa Chúa và thánh Hội. Các vị bước lên bàn Tiệc Thánh, theo tư cách của thành viên đôi bên chứng dám dấu ấn Tình thương hằn in nơi bàn Tiệc. Và, cộng đoàn bắt đầu cất tiếng hoan ca lời vàng rất kết đoàn. Và, lời ca cộng đoàn nay vui hát là chủ đề nhiệm mầu của Tiệc hôm đó có thời khắc đặc biệt trong năm.
Và tiếp đó, chủ tế bước vào nơi đã định hầu chứng kiến sự việc xảy đến ở trước mặt, rất vui sống. Chủ tế hướng dẫn cộng đoàn thực hiện dấu ấn thập tự hằn in trên thân mình mang ý nghĩa Chúa Vượt Qua nỗi chết để rồi Ngài đến với Sự Sống rất Ba Ngôi.
Bằng lời chào trân trọng, chủ tế mời mọi người tham dự hãy lắng nghe Lời Chúa qua câu chào hỏi trích từ thư thánh Phaolô gửi đồ đệ Timôthê: “Chúa ở cùng thần khí anh chị em!” (2Tm 4: 22). Sau đó, chủ tế còn quả quyết: “Ân sủng Đức Kitô, lòng mến của Thiên Chúa và sự hiệp nhất của Thánh Thần ở cùng anh chị em!” (2Cr 13: 13). Tiếp đến, chủ tế dùng lời chào của thánh nhân để khẳng định: “Ân sủng và bình an cho anh chị em do tự Thiên Chúa, Cha chúng ta và Đức Giêsu Kitô” (Êp 1: 2) Theo sau đó, chủ tế nguyện cầu Chúa ngự đến với cộng đoàn và để đáp trả, cộng đoàn xin Thần Khí Chúa đến với chủ tế nữa.
Kế đến, là nghi thức “hối cải”, không theo nghĩa tự kiểm lương tâm cũng không là lời cầu sám hối, quyết xưng thú hoặc xá giải, nhưng là nhận thức mình tuy nhỏ bé vẫn gần cận và được Chúa xót thương. Bởi, người dự Tiệc nhận mình còn kém cỏi, không làm được gì một mình dù đã từng làm trong quá khứ. Duy, có Chúa mới làm mọi sự trong họ và cho họ. Nghi thức hối cải, còn mang ý nghĩa cải thiện và hối tiếc để nhận ra được sự thật là mọi người nuối tiếc chuyện đã qua.
Tác giả Timothy Radcliffe có lần từng viết: “Bằng vào động thái lấy dấu ấn thập tự, người thực thi động tác lấy dấu ấy công nhận sự yếu kém thấp hèn, đi vào quan hệ đẹp giữa Chúa và loài người. Làm thế, tức diễn tả lòng ta ao ước được về nhà cùng với Chúa.”
Thành thử, các công thức cũng như lời cầu và tuyên ngôn xưng thành tiếng ở phụng vụ Tiệc là để nhấn mạnh rằng: ta đã cùng Chúa về dự Tiệc. Mọi lời lẽ cũng như hình thức trong Tiệc/Lễ không để nói lên sự kiện người dự sắp sửa làm điều gì mà để cầu Chúa thực hiện những việc chỉ Ngài làm được để Ngài vẫn xót thương người tham dự. Bằng vào hình thức phụng vụ Tiệc, ta chứng tỏ mình đang làm rạng danh Đức Kitô là Đức Chúa hằng thương xót ta.
Bằng kinh Thương Xót, ta kêu cầu Đấng đã Trỗi Dậy hãy xót thương mọi người, không chừa một ai. Thêm vào đó, kinh Vinh Danh được trổi lên như hừng đông ló rạng một ngày mới; ngày, Chúa xót thương con người nên Ngài đem ánh sáng ban mai đến với họ. Sau đó, là một chút lặng thinh, để rồi Tiệc/Lễ được nối tiếp bằng lời cầu tụ họp người dự Tiệc. Thế nên, lời cầu này lại gọi là lời cầu thâu thập.
Nay, thì người dự sẵn sáng tham gia phụng vụ Lời Chúa. Ở đây nữa, tác giả Tom Wright đã phát biểu ở Thượng Hội Đồng Giám mục Rôma rằng: mọi người chúng ta sẽ học hỏi động thái cùng lời lẽ của Đức Maria khi Mẹ cất lời “Xin Vâng”, Chúc tụng, Giữ Trong Lòng và lúc Mẹ kề cận thập giá Chúa .
Xin Vâng, qua Kinh thánh, là ý nghĩa việc Chúa kêu gọi dân con mọi người hãy vào với tình thương đầy ân lộc. Ngài trông đợi dân con sẽ đáp trả bằng tiếng “Xin vâng” theo thánh ý của Ngài, để rồi họ sẽ “Chúc tụng Ngợi khen” mãi mãi:
-Bằng tiếng “xin vâng”, ta dùng sức mạnh của mình để cử hành Lời trong hoàn cảnh riêng tư, tuy nhiều lo âu/tư lự, vẫn cứ chúc tụng ngợi khen Chúa mãi suốt đời.
-“Giữ trong lòng”: để rồi những gì dân Chúa cảm nghiệm trong đời kề cận Chúa sẽ giữ mãi cho mình và cho người tình thân thương tốt đẹp ấy. Và, “cận kề thập giá” vẫn có Mẹ ở đó học hỏi và vâng theo ý Chúa trong mọi tình huống sầu buồn trong đời người.
Xem thế thì, bằng vào bốn động thái trong đời, con dân người người đã khởi sự yêu thương Chúa trong mọi lúc vẫn “xin vâng”, hết lòng hết sức chúc tụng ngợi khen ơn Ngài ban phát; và bằng tấm lòng gìn giữ trân trọng mọi ân lộc để cùng tin rằng: cả vào lúc gần cận thập giá ta vẫn có Chúa phù trợ rất liên hồi.
Xem như thế, hãy lắng nghe Lời bằng sự kiên nhẫn vẫn có để Lời Ngài xuyên suốt tâm can mỗi người và mọi người khiến ta biết cách mà trân trọng ân lộc Ngài gửi đến qua sự việc lành/dữ rày xảy đến với ta, mọi ngày.
Xem như thế, hãy trân trọng những gì khiến ta sẵn sàng lắng tai nghe và tin tưởng vào Chúa, để rồi chờ đợi Lời Ngài hứa sẽ được hiện thực trong ta và cho mọi người chung sống ở quanh ta. Thế đó, là khởi đầu của những gì xảy đến với ta và mọi người. Khởi đầu, một Tiệc Thánh, cũng rất chung.
Trong tâm tình đó, tưởng cũng nên ngâm tiếp lời thơ còn bỏ dở, vẫn vang vọng hôm nào:

“Hãy quỳ nán lại: tiếng sao rơi!
Khua ánh trăng xanh, động khí trời.
Gió thở hay là hoa thở nhỉ?
Ô hay người ngọc biến ra hơi.”
(Hàn Mặc Tử - Mơ Hoa)

Biến ra hơi. Mơ hay thực. Vẫn là, sự thực cuộc đời đầy hoa lá. Thứ lá và hoa Tình Thương khiến người người kề cận bên nhau để tỏ bày cho nhau những gì cần luyến nhớ. Suốt đời người.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh
Mai Tá phỏng dịch

Tác giả bài viết: Mai Tá

Huế- Sài gòn - Hà nội _TN91_ disk_2

Huế- Sài Gòn - Hà Nội _THUY NGA 91_ disk_2


PARIA BY NIGNT 91

Huế- Sài Gòn - Hà Nội _THUY NGA 91_ disk1_3

HÀI THÚY NGA

PARIA BY NIGHT

Huế- Sài Gòn - Hà Nội _THUY NGA 91_ disk1_2 

PARIA BY NIGHT

Huế- Sài Gòn - Hà Nội _THÚY NGA 91_ disk1 

NGHE NHUNG TÀN PHAI -TCS -Trinh Vinh Trinh 


TINH CA -PD- Minh Ngoc Piano -Based on Le Van Khoa Arrangement-

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Suy niệm chọn lọc Giáo xứ Hiển Linh nép mình vào Lòng Chúa Thương Xót



TGP SAIGON – 17 giờ 15 ngày thứ Bảy, 14-7-2012, Gx Hiển Linh tổ chức buổi tôn vinh Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) theo luân phiên của giáo hạt Gia Định (GP Saigon). Đặc biệt hơn, hôm nay là sinh nhật thứ ba ngày thành lập Cộng đoàn LCTX tại Gx Hiển Linh.
Hiển Linh là gì? Hiển Linh là “Chúa tỏ mình ra cho muôn dân”, quen gọi là Ba Vua (các nhà chiêm tinh – x. Mt 2:1-12). Như vậy, Hiển linh là đến với muôn dân, đúng như lệnh Chúa Giêsu truyền: “Đến với muôn dân” (x. Mt 28:19-20; Mc 16:14-18; Lc 24:36-49; Ga 20:19-23; Cv 1:6-8). Nói chung, “hiển linh” là đến với tha nhân.
Tôi không “đi lạc” như lần trước, nhưng tôi có ý nghĩ “mới lạ”: “Gx Hiển Linh khép mình bên dòng kênh Nhiêu Lộc”. Đến Gx Hiển Linh khi nước lớn hoặc nước ròng, bạn không cảm thấy “cái lạ”, nhưng khi bạn đến đây lúc “nước cạn” thì bạn sẽ cảm thấy “nét khác”: Một Giáo xứ “khép mình bên dòng kinh ĐEN và HÔI THỐI”.
Tuy nhiên, Gx Hiển Linh không bị “hòa nhập” vào “dòng đen hôi” ấy mà đang thể hiện “bản lĩnh” chính mình: SÁNG đức tin và THƠM tình người. Gx Hiển Linh đang “nép mình bên LCTX và đến với tha nhân. Điển hình là hằng ngày có giờ chầu Thánh Thể từ 6 giờ tới 22 giờ. Đó là công của Lm Gioan Nguyễn Văn Minh, chính xứ Hiển Linh và là linh hướng cộng đoàn LCTX của giáo xứ. Vâng, đúng như nhạc sĩ “ngoại đạo” Trịnh Công Sơn nói: “Một ngày như mọi ngày”. Đó là điều rất ư bình thường, nhưng đó là “điều bình thường thánh thiện”.
Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Hỡi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28). Đó lời mời gọi “quen thuộc” mà chúng ta từng nghe. Nhưng NGHE và HÀNH ĐỘNG là 2 động thái khác nhau (x. Mt 20:1-16 – Dụ ngôn “thợ làm vườn nho”, đặc biệt là Dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” hoặc “Người Con Hoang Đàng” – Lc 11-31). Thiết tưởng, Gx Hiển Linh đang rất “thực tế”.
LCTX vô cùng kỳ diệu, chúng ta không thể hiểu theo suy nghĩ của con người: Nổi bật là gương Phêrô, Tôma Tông đồ, Phaolô, Mađalêna, Dimas (người trộm lành). Thánh Thomas Aquinô (Linh mục Dòng Đa-minh, Tiến sĩ Giáo hội) nói: “Nếu loài người không phạm tội, Thiên Chúa sẽ không nhập thể”. Một câu nói đầy tính thần học mà chúng ta không thể hiểu theo nghĩa thông thường. Thật vậy, nếu hiểu theo nghĩa thông thường, chúng ta có thể “rối đạo”.

Đức tin quan trọng hơn phép lạ. Rao truyền LCTX khác với “quảng cáo” LCTX. Cảm nghiệm được LCTX là điều rất quan yếu. Cảm nhận và biết trọng trách Chúa Giêsu đã trao, Thánh Faustina viết: “Sứ mệnh của tôi không chấm dứt khi tôi chết. Tôi sẽ vén bức màn Thiên Đàng để mọi người cảm phục LCTX”. Còn Chân phước Gioan Phaolô II nói bằng kinh-nghiệm-sống: “Bất cứ ai thành khẩn kêu cầu: ‘Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa’ thì sẽ tìm được sự an ủi trong mọi cơn nguy khốn”.
Hoạt động theo tinh thần LCTX là điều cần thiết, chứ không chỉ là “phong trào” – vì “phong trào” lúc thịnh lúc suy, và có thể “chấm dứt”. Nhưng lòng sùng kính thì vĩnh viễn, từ khai thiên lập địa đến tận thế. Có những người đã từng nói “cộng đoàn LCTX chỉ lo đọc kinh mà không hoạt động”. Cũng đúng và cũng sai. ĐÚNG vì họ “thấy” người ta đi lần chuỗi LCTX mỗi ngày lúc 3 giờ chiều mà không thấy những người đó thể hiện động thái tích cực; SAI vì người ta chỉ thấy ‘bề ngoài’ mà không thấy bề trong”.
Người ta hoạt động cho LCTX mà thực tế không thương xót nhau thì vô ích. Cứ lo đi làm từ thiện chỗ này hay nơi nọ, bỏ bạc triệu giúp chỗ này hay chỗ kia,… nhưng chúng ta có thực sự thương xót những người thân cận (các thân nhân và những người sống gần mình) hay chưa? Thế nào là thương xót? Cứ đọc Lc 10:30-37 sẽ rõ. Ai là Sa-ma-ri, ai là tư tế, ai là thầy Lê-vi? Liệu chúng ta có dám nhận? Thương xót nhau không hẳn là cho người ta vài trăm ngàn để người ta có tiền về quê xa (miền Tây, Trung, Bắc); cũng không hẳn là cho người ta một bữa ăn, một chỗ nghỉ qua đêm,… Nếu được vậy rất tốt. Nhưng thể hiện LCTX có thể rất đơn giản: Một ánh mắt, một lời nói, một cử chỉ,… (có khi chưa cần hành động). Chưa thể hiện LCTX với những người thân cận thì làm sao thể hiện LCTX với người xa lạ? “Xa lạ” không phải là không quen biết mà là không cùng quan điểm, khác tôn giáo, khác trình độ, khác sinh hoạt, khác sở thích,…
Quả thật, Chúa Giêsu không hề “bóng gió”, chỉ tại chúng ta cố tình “tránh né”. Chúa Giêsu rất thực tế: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?” (Mt 7:9-10; Lc 11:11-12). Nghĩ thật thấm thía với nhận xét của ông Gandhi (người được dân Ấn Độ coi là thánh nhân): “Nếu những người Công giáo sống đúng theo Tin Mừng Đức Kitô thì dân tộc của tôi bớt khổ”. Làm người đã là khó, sống LCTX càng khó. Bạn có bao giờ nghĩ những điều này?
– Hãy cẩn thận với những ý nghĩ của bạn, vì bạn sẽ nói chúng.
– Hãy cẩn thận với những lời nói của bạn, vì bạn sẽ thực hiện chúng.
– Hãy cẩn thận với những hành động của bạn, vì chúng sẽ là thói quen của bạn.
– Hãy cẩn thận với những thói quen của bạn, vì chúng sẽ là cá tính của bạn.
– Hãy cẩn thận với những cá tính của bạn, vì chúng sẽ quyết định số mệnh của bạn.
LCTX hay GHXHCG (Giáo huấn Xã hội Công giáo) không hề khác nhau, vì tất cả đều bắt nguồn từ Tình yêu Thiên Chúa. Cứ suy nghĩ kỹ về Bát Phúc (kinh “Phúc Thật Tám Mối”) và kinh “Thương Người Có 14 Mối” sẽ biết thế nào là LCTX và GHXHCG.
Trong ca khúc “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại”, nhiều người quen thuộc, nhạc sĩ Đức Huy tâm sự: “Tìm một con đường, tìm một lối đi, ngày qua ngày, đời nhiều vấn nghi, lạc loài niềm tin sống không ngày mai, sống quen không ai cần ai, cứ vui cho trọn hôm nay”. Đó là “bản chất” con người yếu đuối. Nhưng tất cả sẽ qua đi, còn lại một mình, nỗi cô đơn xâm chiếm: “Rồi cuộc vui tàn, mọi nguời buớc đi, một mình tôi về, nhiều lần uớt mi”. Thực tế quá phũ phàng! May mà còn Thiên Chúa – Thiên Chúa của tình yêu (1 Ga 4:8 & 16), Thiên Chúa của Lòng Thương Xót: “Tình yêu đã đến như ánh nắng mai xóa tan màn đêm u tối, cho tôi biến đổi tâm hồn thành một nguời mới”.
Niềm tin yêu lại hồi sinh: “Và con tim đã vui trở lại, tình yêu đến cho tôi ngày mai, tình yêu chiếu ánh sáng vào đời, tôi hy vọng đuợc ơn cứu rỗi. Và con tim đã vui trở lại, và niềm tin đã dâng về Người, trọn tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi”. Có Chúa rồi, chúng ta có thể an tâm: “Dẫu như tôi phải đi qua vực sâu u tối, tôi sẽ không sợ hãi gì, vì Người ở gần bên tôi mãi...”. Đó là ý tưởng của Thánh vịnh 22. Một tác giả ngoài Công giáo không thể viết được những ca từ như vậy!
Thiết tưởng, có mấy điểm hay (theo quan điểm cá nhân): Lm Gioan Minh vái chào linh tượng LCTX sau khi hôn bàn thờ (theo nghi thức “nhập lễ”); sau phép lành cuối lễ, chính chủ tế 3 lần tế xướng: “Lạy Thánh Cả Giuse”, mọi người thưa “Xin cầu cho chúng con”), tiếp theo là 2 lần xướng “Giêsu, Maria, Giuse, con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”, và lần thứ ba là “Giêsu, Maria, Giuse, con mến yêu, xin thánh hóa gia đình chúng con”. Đặc biệt là “hàng hiếm”: Cầu nguyện khoảng 5 phút sau khi rước lễ. “Dạng” này chỉ có ở các dòng tu, hầu như không thấy có ở các giáo xứ. Điểm này tuyệt vời, vì sau khi rước lễ, chúng ta được hòa tan trong Chúa Giêsu, rất cần “tâm sự” với Ngài. Thế nhưng, nhiều người rước lễ xong thì “quên” Chúa Giêsu, lo đi cầu nguyện ở các “tượng đài” khác hoặc “lo làm chuyện khác”. Chắc hẳn Chúa Giêsu là người buồn nhất!
Việc cầu nguyện rất quan trọng. Cầu nguyện không chỉ cho mình mà còn cầu nguyện cho người khác. Ngày nay, cách cầu nguyện này không chỉ phổ biến mà còn lô-gích. Trước Công đồng Vatican II, Giáo hội chỉ cầu nguyện cho các linh hồn Kitô hữu, nghĩa là không cầu nguyện cho các linh hồn ngoài Kitô giáo, nhưng sau Công đồng Vatican II, Giáo hội đã thay đổi “nếp nghĩ” và cầu nguyện cho các linh hồn khác, kể cả cầu nguyện cho các thai nhi (bị giết trước khi chào đời).
Tham dự những Thánh lễ được cử hành sốt sắng thì giáo dân thêm lòng kính mến Chúa. Thật vậy, nếu linh mục là vị Thánh, giáo dân sẽ thánh thiện; nếu linh mục thánh thiện, giáo dân sẽ tốt lành; nếu linh mục tốt lành, giáo dân sẽ tử tế; nếu linh mục tử tế, giáo dân sẽ vô tín ngưỡng. Hệ lụy xem chừng bình thường nhưng không hề bình thường.
Chúa Giêsu xác định: “Tôi bảo thật: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha” (Mc 3:28). Kinh tiền tụng nói: “Nếu Chúa chấp tội, nào ai rỗi được”. Nhưng không thể vì thế mà chúng ta… lợi dụng Chúa!
Thiên Chúa biết chúng ta hơn tự chúng ta biết mình. Chắc chắn vậy, thế nên Ngài hứa: “Kẻ gắn bó cùng Tôi sẽ được ơn giải thoát, ai nhận biết danh Tôi sẽ được sức phù trì. Khi kêu đến Tôi, Tôi liền đáp lại, lúc ngặt nghèo có Tôi ở kề bên” (Tv 91:13-15).
“Đạo từ cửa nhà thờ vào” hay “đạo từ cửa nhà thờ ra” hoàn toàn khác nhau. “Giữ đạo” khác với “sống đạo”. Và “hoạt động LCTX” cũng hoàn toàn khác với “sống LCTX”. Nghiêm lệnh của Chúa Giêsu là: “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Không ai có thể tự biện hộ!
Sống LCTX là tuân thủ lệnh truyền của Đức Kitô: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).
TRẦM THIÊN THU 17-7-2012
Thế nào là Lòng Chúa Thương Xót ?
Tác giả Sarah Babbs

Khi Stacy thông báo tiểu luận về Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) và việc sát nhân, trong trí tôi có ngay mấy từ này: Hình phạt khủng khiếp. Có thể đó là những năm tôi đã hoạt động chống lại án tử hình, hoặc thời gian tôi nói với gia đình các nạn nhân và những người bị kết án, nhưng hai chữ “an tử” (làm chết êm ái) xuất hiện trong đầu tôi, nhưng chắc chắn đó là “hình phạt khủng khiếp”.
Tôi không thể viết một bài phác họa giáo huấn của Giáo hội về hình phạt. Tôi chỉ có thể phác họa về nhiều lý do để phản đối hình phạt khủng khiếp này. Giáo huấn của Giáo hội về vấn đề này rất hay. Rất quan trọng để nói về những lý do mà hình phạt khủng khiếp là ý tưởng tồi tệ. Nhưng những điều này hiếm khi thay đổi được lòng người ta. Nếu tôi viết điều gì như vậy, nó sẽ đem lại những cái gật đầu của những người đồng ý với tôi, và tôi bị chống đối từ những người không đồng ý. Nghĩa là hoàn toàn trái ngược nhau. Thế nên tôi sẽ làm điều gì đó hoàn toàn khác.
Tôi xin kể một chuyện về việc sát nhân và một chuyện về LCTX…
Bạn có thể nghe thấy cây kim rơi trong phòng tĩnh mịch thì cô ấy bắt đầu nói. Người đàn bà khiêm tốn này là một người ăn nói nhỏ nhẹ, theo tôi là vậy. Sau đó tôi mới biết đó là một “sư tử của sự thật”. Chị đưa chúng tôi đến với một bé gái có mái tóc xoăn vàng, với nụ cười sáng như nắng hè. Chúng tôi cảm thấy rất vui.
Lửa trại bập bùng ở khu rừng Montana. Nhưng câu chuyện và những bài hát râm ran. Các lều đã được dựng lên. Ai nấy vào lều của mình.
Tiếng kêu ré trong đêm làm mọi người hoảng hốt. Đứa nhỏ nhất, đứa có mái tóc xoăn vàng, đã biến mất. Xé toạc lều ngay giữa đêm khuya, một lỗ thủng cho biết là có chuyện. Năm 1979, không có điện thoại di động. Chỉ có tiếng nức nở kêu cứu và cầu xin Chúa.
Những cơn ác mộng đã làm nên điều này. Đứa bé đã bị người lạ bắt cóc. Marietta Jaeger Lane không thức giấc vì cơn ác mộng. Con của chị đã mất. Chị ngồi đó bất lực. Cảnh sát được gọi đến. Những ngày sau đó nặng nề trôi.
Chị nói với chúng tôi: “Tôi đã nói với chồng rằng dù người bắt cóc có đem Susie trở lại, vẫn sống khỏe, tôi vẫn có thể giết anh ấy bằng tay không với nụ cười mãn nguyện. Không có cha mẹ nào biết chuyện như thế lại không thể thông cảm với những cảm xúc đó. Ai trong chúng ta là cha mẹ cũng nghĩ sẽ giết họ nếu họ làm hại con mình”.
Đó là lý do những gì xảy ra sua đó rất kỳ diệu. Chị tha thứ cho anh và tha thứ cho mình. Và anh ta đi mất.
Marietta đã sống trong sự giằng co giữa Thiên Chúa và lương tâm. Chị muốn nổi điên và muốn giết chết người đàn ông đã làm điều đó, nhưng vẫn biết đức tin của mình là người Công giáo thì phải đấu tranh để tha thứ cho kẻ thù. Làm sao chị có thể làm được? Không thể. Nếu không có Ơn Chúa, điều mà chị cầu xin hằng ngày. Chị xin Chúa giúp chị làm điều chị cần để tha thứ cho người đàn ông đã bắt cóc và coi như đã giết đứa con yêu quý chị.
Một năm sau, đúng giờ Susie bị bắt cóc, người bắt cóc đã gọi điện đến nhà Marietta. Cơn giận sôi lên trong lòng chị. Tuy nhiên, chị đã vượt qua bằng sự bình tĩnh và lòng trắc ẩn, chị nói với người giết con gái mình: “Anh phải chịu dằn vặt nhiều”.
Người đàn ông kia bật khóc và tiếp tục nói chuyện với Marietta cả tiếng đồng hồ. Lúc đó, anh ta nói rằng anh ta đã bị bắt, bị kết tội bắt cóc và giết Susie, con gái của chị. Anh ta không thoát khỏi án tử hình, điều mà Marietta rất muốn. Tuy nhiên, có điều gì đó đã thay đổi trong suốt một năm chị cầu nguyện.
Đây là điều chị nói với chúng tôi: “Tôi thấy rằng giết anh ta vì Susie cũng chẳng lấy lại sự sống cho nó; chỉ gây đau khổ cho một nạn nhân khác và một gia đình khác... Trả thù là bất xứng với Thiên Chúa và coi thường nhân phẩm của người khác. Mới đầu gia đình nạn nhân có thể nghĩ đến việc trả thù, nhưng công lý không nên dựa trên sự khát máu. Chúng ta nên áp dụng các quy luật luân lý cao hơn để có lợi cho các nạn nhân của mình”.
Thật vậy, khi Marietta yêu cầu công tố viên bỏ án tử hình, người đàn ông đó đã được tha chết. Người ta có thể phát hiện điều gì đó đã xảy ra trong Marietta, đó là lời cầu xin tha thứ cho kẻ thù.

Đó là lúc tôi nhân biết lòng thương xót là thế nào ngay giữa thế giới sa đọa này, tôi hiểu Lòng Chúa Thương Xót là gì khi chúng ta trao tặng lòng thương xót ấy cho nhau., cho những người xứng đáng đón nhận lòng thương xót. Tôi nghĩ đó là điểm mà Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã làm khi ngài tái cấu trúc sự thảo luận về án tử hình từ việc “cho người khác điều họ xứng đáng nhận” tới việc “kiềm chế sự khát máu để xã hội bình an”. Vì các tiêu chuẩn trần thế của chúng ta, vì cách phản ứng theo bản năng của chúng ta, nên những người gây tội ác vẫn phải chết.
Chúng ta phải tự hỏi xem mình muốn là người thế nào. Chúng ta nghĩ mình không phải cho người khác cái mà họ không xứng đáng nhận, nhưng Chúa Giêsu đã đổ Máu và Nước ra vì thương xót chúng ta và tha thứ cho chúng ta thì sao? Chúng ta có xứng đáng nhận không? Hoàn toàn không. Không ai trong chúng ta thực sự xứng đáng nhận, mà chỉ vì Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
Một trong những điều cuối cùng Marietta nói với chúng tôi là… “không lời”. Điều đó như là câu nói thật và cơ bản nhấ mà tôi đã từng nghe. Chị nói: “Khi tôi nhận biết Chúa Giêsu đã chịu chết vì tôi thì tôi yêu mến Ngài nhiều như Ngài đã yêu và chết cho Susie, tôi không thể cố ý yêu cầu Ngài chết thêm lần nào nữa”.
Đó là đêm mà tôi nhận biết thế nào là LCTX.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

Lòng Chúa Thương Xót và nội tâm

Đời sống cầu nguyện của người Công giáo bắt nguồn từ Lòng Chúa Thương Xót. Có những khoảng tối trong cuộc đời chúng ta, chỉ với LCTX thì chúng ta mới khả dĩ đối đầu và xử lý thực tế của chính con người chúng ta. Sống với chính mình, lý tưởng này bắt đầu được nói rõ vào khoảng thời thánh Bênêđictô, mặc dù đó là một phần đời sống tâm linh của Kitô giáo từ chính lúc khởi đầu. Nghĩa là không chỉ thú tội và làm việc đền tội, không chỉ chấp nhận sự yếu đuối và hữu hạn của mình trước mặt Thiên Chúa, mà còn có thể đi vào sâu thẳm trong tâm hồn để khiêm nhường lắng nghe tiếng Chúa, vì Ngài đang chờ đợi chúng ta ở đó – Giáo hội gọi đó là habitare secum.

Lời cầu nguyện của Kitô giáo xử lý thực tế của trái tim con người. Trái tim này là dòng suối tuôn chảy có cả điều tốt và điều xấu. Nó bị rạn nứt và bị thương, trĩu nặng u buồn, nhưng vẫn khả dĩ tìm được niềm vui nơi điều tốt. Đó là thâm cung, nơi mà Thiên Chúa nói với chúng ta. Người ta không muốn xử lý với chính mình hoặc với Thiên Chúa nên không muốn vào nơi đó. Người ta vẫn xa lạ với chính mình và không biết điều gì đang lèo lái họ trong cuộc sống. Nhưng khi Thiên Chúa kêu gọi chúng ta đến với Ngài và chúng ta bắt đầu khao khát ở với Ngài, vào nơi sâu thẳm của tâm hồn chúng ta, chấp nhận những gì ở đó và để cho Chúa là “đại lộ” để khả dĩ tìm kiếm Ngài.

Lý do chúng ta phải làm nhờ LCTX là điều mà ĐGH Bênêđictô XVI đã nói trong bài giảng tại thánh lễ phong Chân phước Đức cố GH Gioan Phaolô II: Lòng Chúa Thương Xót nghĩa là giới hạn sự dữ. Chân phước Gioan Phaolô II đã yêu mến LCTX. Chính LCTX đã giúp ngài xử lý sự tàn ác của Thế chiến II và sau đó là sự đàn áp của Soviet nhiều thập niên. Chân phước Gioan Phaolô II tin rằng LCTX là giới hạn của sự dữ vì càng tin vào Chúa Giêsu thì càng chiến thắng sự dữ. Chiêm ngưỡng diện mạo Đức Kitô và bám vào LCTX là bí quyết không chỉ xử lý với chính ngài mà còn xử lý với tha nhân, ngay cả với người đã cố ý giết ngài. Niềm tín thác vào LCTX đã làm cho Chân phước Gioan Phaolô II trở thành vị trạng sư đối với phẩm giá con người. Đó là lý do mà mọi người trên thế giới đều phải tâm phục khẩu phục và quý mến ngài – dù là vô thần hay tự do, hoặc bất kỳ tôn giáo nào. Họ muốn biết LCTX mà cuộc đời ngài đã phản chiếu Đức Kitô.

Sự dữ, bí ẩn của tội lỗi, đã độc ác và vô nhân đạo, nhưng LCTX lại trổi vượt hơn! LTX là Tình yêu chịu đựng nỗi bất hạnh của sự dữ đã làm đau khổ trái tim người khác, để phẩm giá của người đó khả dĩ được phục hồi. Đức Kitô đã ôm lấy mọi nỗi bất hạnh của chúng ta khi Ngài bị treo trên Thập giá, và chúng ta gọi đó là LCTX.
Cách áp dụng vào trái tim chúng ta là điều tốt và điều xấu chúng ta thấy ở đó không là các quy luật đối ngẫu đồng đẳng (co-equal dualistic principles). Điều tốt đã chiến thắng điều xấu qua cái chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Khi chúng ta trở lại với Ngài bằng đức tin, Ngài ban cho chúng ta sức mạnh của LTX và dạy chúng ta biết nhận ra sự chiến thắng của điều tốt đối với điều xấu trong cuộc sống của chúng ta. Ngài đã chịu đau khổ với chúng ta và sẵn sàng gặp chúng ta ở đó, để qua Ngài mà mọi sự nên tốt lành, quý giá và xác thực là chúng ta được cứu thoát khỏi bất hạnh vì tội lỗi và được sống cuộc sống mới.

Để biết sống với chính mình, đây là nhìn vào những chỗ đó trong cuộc đời chúng ta, nơi mà sự dữ đã chiếm dụng, và dâng những điều này cho Chúa để chúng ta khả dĩ nhận biết LCTX là giới hạn của sự dữ. Tuy nhiên, vực sâu của nỗi bất hạnh lại trở nên vực sâu của LCTX, đó là các vết thương của Đức Kitô sâu thẳm khôn dò. Chúng ta càng phát hiện giới hạn đối với sự dữ, chúng ta càng có thể tận hưởng sự hiện diện của Thiên Chúa đáng kể và lạ lùng trong cuộc đời chúng ta. Thay vì bị đau khổ và tuyệt vọng, chúng ta có thể thấy mình sống như thánh Bênêđictô, Chân phước Gioan Phaolô II và các vị thánh khác – những người đã phát hiện bí quyết sống với chính mình trước mặt Thiên Chúa qua sự giải thoát nội tâm như vậy. Đó là tìm kiếm Lòng Chúa Thương Xót.

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2012

THÁNH LỄ TẠ ƠN LÀM PHÉP CHUÔNG TẠI NHÀ THỜ HỌ DƯỢC THƯỢNG- XỨ LẬP TRÍ
THỊ TRẤN SÓC SƠN HÀ NỘI
Đây là Nhà thờ Họ,đất làm nhà Thờ do người cậu của Tôi hiến ,kêu gọi bà con giáo dân chung quang ủng hộ,cùng bỏ công tập trung làm và xây dựng ngôi Thánh đường DƯỢC THƯỢNG _TIÊN DƯỢC,Thị trấn Sóc Sơn Hà Nội. giáo dân ở đây hơn 100 nhân danh,chủ yếu trồng lúa,cây ăn trái..nên sau hơn 1 năm khởi công Nhà thờ mới hoàn thành.xin quý ân nhân rộng tay giúp đỡ xây dưng Tháp chuông và Phòng học Giáo lý cho các em nhỏ.

Chuông Nhà Thờ Cái Mơn, Chợ Lánh, Bến Tre. Việt Nam

Chuông Nhà Thờ Cái Mơn, Chợ Lánh, Bến Tre. Việt Nam



Đây là chuông nhà thờ Cái Mơn, Chợ Lách, Bến Tre. Nhà thờ Cái Mơn xây dựng từ năm 1957 với kiểu cách rất xấu và giống cái gara hoặc giống cái nhà máy. Tháp chuông mới xây dựng khoảng năm 2000 còn xấu hơn nữa, nhất là cái chóp tháp giống như một cái đầu đạn, không biết bao giờ thì nó nổ? Tháp treo 6 trái chuông, trong 6 trái chuông này có 5 trái cũng do hãng đúc bộ chuông nhà thờ Đức Bà-Sài Gòn đúc, còn một trái nhỏ nhất thì đã có trước. Chuông này có thiết kế quả lắc rất dở nên khi hoạt động nó trợt qua trợt lại hai bên miệng chuông, khiến âm thanh bị sai lạc. Tháp nay đã bị nghiêng khoảng vài độ. Với cách treo chuông trực tiếp vô tháp chuông như vầy thì bao nhiêu lực ly tâm do chuông chuyển động tạo ra sẽ làm cho cây tháp chịu ảnh hưởng rất lớn và tháp sẽ tiếp tục bị nghiêng. Có thể sau chục năm nữa nó sẽ trở nên nổi tiếng như tháp nghiên Pisa hoặc nó sẽ đổ sập xuống. Mấy tay kỹ sư xây dựng chỉ biết xây tháp chuông chứ không biết thiết kế giàn treo chuông do đó chỉ biết đổ đà rồi treo chuông trực tiếp vô đó, báo hại nhiều nhà thờ và tháp chuông bị nghiêng hoặc bị nứt. Gần khu vực nhà thờ là đài tưởng niệm nơi sinh nhà bác học và cũng là một trong 18 vị văn hào của thế kỷ 19, Trương Vĩnh Ký. Ông có thể nói và viết thông thạo 27 ngôn ngữ, trong đó có những cổ ngữ như Latinh và Sancrit-tiếng Phạn. Danh mục: Du lịch và Sự kiện Thẻ: MVI 1968 Giấy phép: Giấy phép chuẩn của YouTube

THÁP CHUÔNG NHÀ THỜ ĐÁ PHÁT DIỆM

THÁP CHUÔNG NHÀ THỜ ĐÁ PHÁT DIỆM 

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2012

Đan viện Xito – Châu Sơn: Nhiều điều chưa được biết đến

Đan viện Xitô Châu Sơn: 
Nhiều điều chưa được biết đến...

Trên con đường lớn vào rừng quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, xuôi theo dòng sông Nho Quan không chỉ có khu bảo tồn thiên nhiên đầm Vân Long thu hút đông du khách nước ngoài với “tour’ du lịch xe trâu, mà còn có một công trình kiến trúc độc đáo được dựng nên hoàn toàn bằng bàn tay của những người tu hành – đó là Tòa Thánh đường Đan viện Châu Sơn. Theo Kỷ yếu của Đan viện, ngôi Thánh đường theo dòng Khổ Tu này được xây dựng vào năm 1939, cung hiến năm 1945 bởi sự khấn nguyện và tiền cúng của cha Phêrô Trần Đức Trưởng. Hiện tại có tấm bia khắc ngay dưới chân nhà thờ ghi nhận ca ngợi công đức của cha Phêrô.
Thánh đường Đan viện Châu Sơn là một trong những điểm đến ít người biết tới bởi ngôi thánh đường này nằm ẩn sâu sau trục đường chính, trong một khoảng không gian hữu tình có núi, có sông, có hồ và có rất nhiều cây cối bao quanh. Khởi công xây dựng tháng 2-1939, mặc dù không hề có bản vẽ thiết kế trên giấy, mà hoàn toàn dựa vào sự nghiên cứu, hướng dẫn của Linh mục Placiđô Trương Minh Trạch – là chủng sinh của Đại Chủng viện Sài Gòn ra đây thành lập Đan viện; cũng không có các phương tiện hiện đại, xi măng cốt thép, chỉ có giàn giáo và bàn tay vài chục thày trò và thợ địa phương, công trình kéo dài đến cuối năm 1945 mới hoàn tất, song lập tức nổi bật giữa vùng núi non heo hút. “Vỏ bọc” Tòa Thánh đường toàn bằng gạch tự nung, không trát, độc đáo ở chỗ hơn 6 thập kỷ trôi qua không hề bị rêu phong, vẫn mộc mạc một màu đỏ son giống như công trình Nhà thờ lớn ở Sài Gòn.
Thánh đường Đan viện Châu Sơn quay về hướng Đông, thiết kế theo kiểu Gothique với bức tường bao quanh dày tới 0,6 m, chỗ có cột dày 1,2 m, tạo sự ấm áp về mùa đông và mát mẻ về mùa hạ
Nhìn từ hai bên, điểm nhấn xuyên suốt chiều dài 64 m chính là những cột nhà được thiết kế thành những tháp nhỏ cân xứng
Tường được trang trí hài hòa bởi các cửa sổ chia thành hai tầng trên và dưới, phía trong là cửa kính gỗ, phía ngoài chính là những bức tranh “chạm thủng” họa hình các Thánh, hình Chúa Giêsu vác Thánh giá và cầu nguyện.
Phía trong Thánh Đường, ánh sáng tự nhiên lọt vào hai hành lang rộng qua những cửa sổ lớn, tôn lên những hàng cột tròn và họa tiết trang trí hay những bức phù điêu đơn giản, có tính khái quát cao.
Mái vòm trắng cao 21m là đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc trong lòng Thánh đường Đan viện Châu Sơn, làm nổi bật gian cung thánh với các bức phù điêu màu tuyệt tác (biểu tượng Chúa Ba Ngôi, tượng Đức Mẹ, các Thánh).
Khuôn viên Đan viện được bao phủ một màu xanh đầy sức sống bởi rất nhiều loại cây khác nhau, và hiện tại cấc Thầy đang tìm kiếm và trồng thêm nhiều loại cây khác để tạo bầu không khí tự nhiên cho Đan viện.
Một góc khu vực vườn Con Voi, nằm giữa Thánh Đường và Nhà nghỉ dành cho khách hành hương, phía trước là một hồ nước lớn nuôi cá trê.
Một gốc cây trong vườn Con Voi, nhìn qua chúng ta cũng có thể thấy nó giống con chim Thiên Nga
Nhà nghỉ dành cho khách hành hương của Đan Viện, cũng là nơi tiếp khách của Đức Tổng Giuse và các Cha. Phía cuối nhà nghỉ là dãy nhà ăn gồm một phòng lớn và hai phòng nhỏ liền kề, phía sau là hồ nước nuôi cá chim và vườn cây xanh.
Một góc vườn thuộc khu vực Nội Vi (Nơi sinh hoạt và học tập của các Tu Sĩ), tuy thuộc cùng một khối trong kết cấu Gothique với phần phía trước là Thánh Đường, nhưng không gian nơi đây cách biệt hoàn toàn với khu vực bên ngoài bởi những dãy tường nối tiếp và những hàng cây mọc khin khít nhau.
Con đường dành riêng cho các Tu sĩ trong khu vực Nội Vi, đi thẳng vào mạn trái Thánh Đường
Nếu nói về “Của Lạ” trong tự nhiên thì có lẽ là Đan Viện Châu Sơn không thiếu, đơn cử như gốc Dừa này, tuy đã bị đốn ngang tới gần sát gốc nhưng từ trong thân cây, nước vấn tự động tuôn đổ thấm ướt cả thân Dừa
Tượng đài Đức Mẹ – một phần trong quần thể Vườn Fatima mà Đan Viện Châu Sơn hiện tại đang thi công, theo lời Đức Tổng và Cha Bề trên thì vườn Fatima sẽ hoàn thành vào năm 2013
Cách tượng đài Đức Mẹ không xa là khu vực nuôi bốn cây Sồi và hai cây Olive, theo như lời giới thiệu của Đức tổng Giuse Ngô Quang Kiệt thì sáu gốc cây này được đích thân Ngài nhờ người đưa trực tiếp từ Mỹ về, để sau khi lớn lên sẽ đặt vào Vườn Fatima. Và vì khí hậu nơi cây sồi và cây Olive phát triển rất giống với khí hậu Việt Nam nên khi đem về Đan Viện thì chỉ trong thời gian ngắn chúng đã phát triển rất nhanh.
Phía xa xa, trên đỉnh núi là tượng Thánh giá được đúc bằng Xi Măng, mọi vật liệu như xi măng, sắt thép đều được các thầy chuyển lên thủ công.
Còn có hang Đức Mẹ Maria nằm phía sau nhà thờ. Muốn tới hang đá phải trèo lên 299 bậc cầu thang và dọc đường có rất nhiều thánh giá. Ở đây còn có nhiều ngôi mộ của các vị linh mục già mất đi được chôn cất tại đây.
Điều đặc biệt: Nơi đây luôn mở rộng cửa cho những người muốn về tĩnh tâm, hàng ngày Đan viện tiếp đón rất nhiều đoàn khách chủ yếu là các tổ chức, hội đoàn, dòng tu và sinh viên giới trẻ thuộc khu vực miền Bắc về tĩnh tâm cũng như hành hương.
Không khí cực kỳ yên tĩnh và trong lành vào buổi sáng sớm. Được biết ở Đan Viện Châu Sơn, ngày mới bắt đầu vào lúc 3h40 sáng. lúc 4h00 các thầy sẽ cùng vào Thánh Đường đọc kinh và chúc tụng, vinh danh Thiên Chúa.
Về với Đan Viện Châu Sơn, chúng ta tìm được sự bình yên và thảnh thơi trong tâm hồn mỗi người…!
THAM QUAN NHÀ THỜ ĐÁ PHÁT DIỆM 
GIA ĐÌNH ÚT TRANG

Thứ Hai, 16 tháng 7, 2012

CHÚA NHẬT, 15 THÁNG 07 2012 21:54 BBT WTGP HN ~


EmailIn
Giesu_copy

Kinh Tin kính là một trong những kinh quan trọng mà hầu hết mọi tín hữu đều thuộc lòng, từ những em bé học lớp giáo lý để rước lễ lần đầu đến những người trưởng thành muốn gia nhập Giáo Hội. Kinh này được khởi đầu bằng chữ "Tôi tin", và từ này được lặp đi lặp lại nhiều lần. Nội dung kinh Tin kính bao gồm những chân lý căn bản của Kitô giáo.

Khi tuyên đọc "Tôi tin", người tín hữu xác định đức tin là một hành vi có tự do và được chọn lựa, là sự chấp nhận tin theo Chúa. Đức tin của Kitô hữu không phải chỉ tin "có Chúa", giống như tin một vật đang hiện hữu, ví dụ một căn nhà, một chiếc xe, một sự việc... mà là tin "vào Chúa" với tâm tình phó thác, trao gửi và mến yêu. Chữ "kính" trong ngôn ngữ Việt Nam diễn tả rất tuyệt vời ý niệm đó. "Lời tuyên xưng "Tôi tin" đồng nghĩa với "Tôi phó thác, tôi chấp nhận" (Đức hồng y Ratzinger "Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay", tr. 88). "Công thức của đức tin không phải là 'tôi tin điều gì', nhưng là 'tôi tin vào Chúa" (Sđd tr. 79).

Đức tin không chỉ là một hành vi cá nhân, mà còn được tuyên xưng trong sự hiệp thông với cộng đoàn Giáo Hội. Vì thế, bên cạnh việc tuyên xưng "Tôi tin", người tín hữu còn tuyên xưng "Chúng tôi tin". Đức Bênêđitô XVI đã viết: "Việc tuyên xưng đức tin là một hành vi bản thân, đồng thời cũng có tính chất cộng đoàn. Thực vậy, chính Giáo Hội là chủ thể đầu tiên của đức tin. Trong đức tin của cộng đoàn Kitô, mỗi người lãnh nhận bí tích Rửa tội, là dấu chỉ hữu hiệu về sự gia nhập cộng đoàn các tín hữu để được ơn cứu độ. Như Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo làm chứng: "Tôi tin"; là đức tin của Giáo hội được mỗi tín hữu tuyên xưng cá nhân, nhất là trong lúc chịu phép Rửa tội. "Chúng tôi tin" là đức tin của Giáo hội được các giám mục họp nhau trong Công đồng, hoặc tổng quát hơn, được cộng đồng phụng vụ các tín hữu tuyên xưng. "Tôi tin" cũng là Giáo Hội Mẹ chúng ta, đáp lại Thiên Chúa bằng đức tin của mình và dạy chúng ta nói "Tôi tin", "Chúng tôi tin" (Tự sắc Năm Đức tin, số 10).

Ngay từ khi cộng đoàn Kitô hữu vừa được hình thành, giống như một nhánh cây được tách rời khỏi đại thụ là Do Thái giáo, các tông đồ và các tín hữu đã muốn khẳng định những điều phải tin, dựa vào giáo huấn mới mẻ của Đức Giêsu. Bốn sách Tin Mừng và các sách khác của bộ Tân Ước nhằm mục đích xây dựng một hệ thống giáo lý cho những ai muốn nhập đạo, đồng thời nhằm nuôi dưỡng đời sống đức tin của các tín hữu. Vào thời ban đầu, tức là thế kỷ thứ II và thứ III, kinh Tin kính có cấu trúc theo dạng hỏi-thưa, được dùng trong phụng vụ phép rửa, gồm ba câu hỏi dành cho người xin gia nhập Giáo Hội, đi kèm với ba lần dìm trong nước. Một truyền thuyết có từ thế kỷ thứ V kể lại rằng trước khi các tông đồ chia tay nhau đi truyền giáo, họ thấy cần phải thống nhất với nhau về những điều phải tin để có thể loan truyền đức tin cho người khác. Sau khi cầu nguyện, mỗi người đều viết riêng ra giấy một điều mình tin, và khi ghép lại với nhau, thì 12 vị trình bày 12 điều tin khác nhau và thế là kinh Tin kính ra đời! Vì vậy mà có tên gọi "Kinh Tin kính các tông đồ".

Tuy vậy, cũng từ rất sớm, đã có những bất đồng ý kiến giữa các Kitô hữu về nội dung đức tin hoặc cách thực hành đức tin. Công đồng Giêrusalem đã được triệu tập vào khoảng năm 48 như một bằng chứng về tình hiệp thông trong Giáo Hội (x Cv 15,1-29). Đây là một biến cố quan trọng, vừa mở ra hướng đi mới là rao giảng Tin Mừng cho những người ngoài Do Thái, vừa quyết định cho anh chị em lương dân khi trở lại Đạo không phải giữ những ràng buộc của Lề Luật. "Văn kiện" công đồng đầu tiên của Giáo Hội đã tuyên bố những quyết định nhân danh tập thể: "Anh em tông đồ và kỳ mục chúng tôi gửi lời chào anh em gốc dân ngoại tại Antiôkia..." (Cv 15,23). Liên tiếp trong 4 thế kỷ, thường xuyên có những tranh luận về mầu nhiệm Nhập thể, liên quan đến bản tính, ngôi vị, vai trò và sứ mạng của Đức Giêsu. Các công đồng đã được triệu tập để lắng nghe Chúa Thánh Thần và tìm ra tiếng nói chung trong Giáo Hội. Những bản định tín của các công đồng đều luôn thể hiện đức tin cộng đồng và được mở đầu bằng lời tuyên tín "Chúng tôi tin". Năm 1967, trong khuôn khổ "Năm Đức tin" kỷ niệm 1900 năm cuộc tử đạo của thánh Phêrô và thánh Phaolô tông đồ, Đức Phaolô VI đã soạn thảo một Kinh tin kính, nhằm tuyên xưng nội dung trọn vẹn của đức tin công giáo. Với tên gọi "Kinh Tin kính của Dân Chúa", kinh này thể hiện "Giáo Hội tính", tức là tính tập thể, cách rõ ràng trong lời tuyên xưng đức tin. Đức Phaolô VI đã dùng 17 lần "Chúng tôi tin" và 1 lần "Chúng tôi tuyên xưng" trong Kinh Tin kính này. "Kinh Tin kính của Dân Chúa" được chính thức công bố ngày 30-6-1968.

Hiểu như trên, đức tin của người tín hữu phải được tuyên xưng với hai đại từ nhân xưng, ở ngôi thứ nhất số ít (Tôi) và số nhiều (Chúng tôi).

Tôi tin: đây là điều tôi tuyên xưng một cách đặc biệt trong ngày được thanh tẩy. Dù lúc đó tôi chỉ là một em bé mới sinh, nhưng cha mẹ và người đỡ đầu đã thay tôi để tuyên tín điều ấy. Mặc dù được tuyên xưng bởi cha mẹ và người đỡ đầu, đức tin mà tôi lãnh nhận trong ngày được thanh tẩy vẫn là đức tin của cá nhân tôi. Mỗi ngày, thể xác tôi dần dần lớn lên và đức tin cũng từng bước trưởng thành, đơm hoa kết trái nơi cuộc đời của tôi. Những câu kinh bập bẹ khi tôi vừa biết nói, đó là dấu thánh giá và sau đó là câu "Tôi tin". Mặc dù tôi chưa hiểu biết gì, nhưng tôi tin vào Chúa trong sự thương yêu và hướng dẫn của cha mẹ và mọi người trong gia đình. Như thế, đức tin do cha mẹ tuyên xưng thay tôi sẽ dần dần trở thành đức tin "của tôi" một cách thực thụ. Khi tuyên xưng "Tôi tin", tôi khẳng định tôi đã được "gặp gỡ" Thiên Chúa, mặc dù chưa bao giờ được nhìn thấy Ngài. Khi đó, tin không còn là một khái niệm trừu tượng thuần túy lý thuyết, nhưng "là một cuộc gặp gỡ với con người Giêsu, và qua cuộc gặp gỡ đó mà nhận ra rằng, ý nghĩa của thế giới là một con người, một ngôi vị sống động" (Đức hồng y Ratzinger "Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay", tr. 79).

Chúng tôi tin: dù đức tin là hành vi cá nhân, tôi không chỉ sống đức tin một cách đơn lẻ. Tôi sống trong Giáo Hội, như con thơ sống trong cánh tay ôm ấp của Mẹ hiền. Vì Giáo Hội là chủ thể của đức tin, nên đức tin của tôi được xây dựng trên nền tảng đức tin của Giáo Hội. Giáo Hội là người quản lý kho tàng đức tin, đồng thời nuôi dưỡng các tín hữu bằng kho tàng đó. Có thể tôi không hiểu thấu nội dung đức tin, nhưng tôi tin trong Giáo Hội, với Giáo Hội và trong tình hiệp thông với anh chị em đồng đạo của tôi. Khi tin trong Giáo Hội, tôi không sợ bị lầm lạc, vì Giáo Hội là Mẹ, luôn mong muốn cho con mình những điều tốt đẹp. Giáo Hội vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của đức tin, vì thế cùng với đức tin vào Chúa, tôi còn tuyên xưng: "Tôi tin Giáo Hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền...". Đức tin nơi Giáo Hội đem lại cho tôi niềm xác tín vào những gì Giáo Hội thông truyền. Tôi xác tín rằng, Giáo Hội mà dạy thì chẳng thể sai lầm, vì có Chúa Thánh Thần ở cùng Giáo Hội. Như thế, dù môi miệng tôi vẫn tuyên đọc "Tôi tin", nhưng khi tôi tin với Giáo Hội và trong Giáo Hội, chữ "Tôi tin" trở thành "Chúng tôi tin". Đức tin nhiệm màu là thế.

Một đức tin trọn vẹn phải được thể hiện trong hai chiều kích: cá nhân và cộng đoàn. Nếu chỉ có "Tôi tin" mà thôi, đức tin của tôi dễ bị khiếm khuyết, lầm lạc. Nếu chỉ dùng lại ở "Chúng tôi tin", đức tin ấy sẽ mang tính cơ hội, phong trào. Đức Thánh Cha cảnh báo một nguy hiểm hiện nay là nhiều người chỉ coi đức tin như một vấn đề thuần túy cá nhân: "Hiện nay, tại một số miền trên thế giới, nhất là tại Tây Phương, có xu hướng loại trừ Thiên Chúa hoặc coi đức tin chỉ là một chuyện riêng tư, không ăn nhằm gì tới đời sống xã hội. Trong khi tất cả các giá trị làm nền tảng cho xã hội xuất phát từ Tin Mừng - như cảm thức về phẩm giá con người, tình liên đới, lao công và gia đình -, người ta nhận thấy một sự "che khuất Thiên Chúa", một sự mất trí nhớ, thậm chí một sự chối bỏ thực sự đối với Kitô giáo và một sự phủ nhận kho tàng đức tin đã nhận lãnh, đến độ có nguy cơ đánh mất chính căn tính sâu xa của mình" (Sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới năm 2011, số 1). Đức Thánh Cha còn khẳng định: "Kitô hữu không bao giờ được nghĩ rằng đức tin là một điều riêng tư. Đức tin là quyết định đứng về phía Chúa để sống với Ngài. Và thành ngữ "ở với Chúa" giúp hiểu biết những lý do tại sao ta tin. Chính vì đức tin là một hành vi tự do, nên cũng đòi hỏi một trách nhiệm xã hội về những gì ta tin" (Tự sắc Năm Đức tin, số 10). Vì quan niệm đức tin là vấn đề cá nhân nên nhiều người chủ trương tự do thực hành hay không thực hành đức tin, kể cả cha mẹ hay những người có trách nhiệm cũng không có quyền can thiệp. Quan niệm đức tin là "vấn đề riêng tư" còn làm cho tín hữu sống khép kín, thiếu hòa đồng với cộng đoàn giáo xứ cũng như cộng đoàn xã hội. Không! Đức tin không phải chỉ là chuyện riêng tư. Trách nhiệm của mỗi người là sống đức tin và loan báo đức tin cho anh chị em đồng loại.

Giáo Hội công giáo đang chuẩn bị bước vào Năm Đức tin. Bộ Giáo lý Đức tin đã đưa ra những hướng dẫn mục vụ để Năm Đức tin sinh nhiều hiệu quả nơi Giáo Hội, ở nhiều cấp độ khác nhau. Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã đề ra những dự tính để giúp các tín hữu học hỏi và sống đức tin. Đây là dịp để mỗi tín hữu duyệt lại đời sống đức tin của mình, đồng thời tái khám phá niềm vui của đức tin và lòng nhiệt thành hăng say truyền giáo. Mỗi người hãy tự hỏi "đâu là suy nghĩ và thái độ của Kitô hữu, khi họ đặt cuộc sống mình trước hết và trên hết vào động từ "tôi tin" và qua đó khẳng định – một điều không hề đương nhiên – tâm điểm của Kitô giáo là một "niềm tin" (Đức hồng y Ratzinger "Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay", tr. 47).

Khi ý thức được hai chiều kích quan trọng này của đức tin, chúng ta sẽ cố gắng để làm cho đức tin lớn lên trong ta mỗi ngày. Đức tin trưởng thành sẽ dẫn chúng ta đến gặp gỡ Đức Giêsu, để nhờ Người mà đến cùng Chúa Cha.

"Hãy có một đức tin sắt đá, con sẽ làm được tất cả, vì mỗi lần Chúa làm phép lạ, Người hỏi có tin không. Đức tin con làm cho con được lành" (Đức hồng y Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng, 278).

Hải Phòng ngày 14-7-2012

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Giáo Hội rao giảng chân lý Lời Chúa

Email In
Benoit_XVI_copy_copy_copy_copy_copyCũng giống như các ngôn sứ xưa kia Giáo Hội rao giảng chân lý Lời Chúa, chứ không rao giảng những gì các kẻ quyền thế muốn nghe.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trong bài giảng thánh lễ cử hành tại quảng trường trước nhà thờ chính tòa giáo phận Frascati sáng Chúa Nhật 15-7-2012.
Đức Thánh Cha đã có hai sinh hoạt: ban sáng lúc 9 giờ rưỡi Đức Thanh Cha đã viếng thăm giáo phận Frascati, một thành phố nhỏ gần Castel Gandolfo, nơi Đức Thánh Cha đang nghỉ hè, và chủ sự thánh lễ cho tín hữu thành phố này. Frascati cũng là giáo phận hiệu tòa của Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Tiếp đến ngài đã về Castel Gandolfo để đọc kinh Truyền Tin với các tín hữu.
Giảng trong thánh lễ tại Frascati, Đức Thánh Cha đã quang diễn các bài đọc phụng vụ Chúa Nhật thứ XV năm B thường niên và nói: Phúc Âm cho thấy sáng kiến của Chúa Giêsu sai Mười Hai Tông Đò đi rao giảng Tin Mừng. Từ "apostoli" Tông Đồ có nghĩa là "được sai đi". Thật là điều rất quan trọng ngay từ đầu Chúa Giêsu đã lôi cuốn Mười Hai Tộng Đồ vào hoạt động truyền giáo: nó như một loại thực tập cho các trách nhiệm lớn lao chờ đợi các vị sau này. Đức Thánh Cha giải thích sự kiện này như sau:
Sự kiện Chúa Giêsu mời gọi vài môn đệ trực tiếp cộng tác vào sứ mệnh của Người, biểu lộ một khía cạnh tình yêu của Chúa: Chúa không chê sự trợ giúp của các người khác đối với công trình của Người. Người biết rõ các hạn hẹp, các yếu đuối của họ nhưng không khinh rẻ họ, trái lại còn ban cho họ phẩm giá là những người được Chúa sai đi. Người sai họ ra đi cứ hai người một, và đưa ra các chỉ thị. Thứ nhất là tinh thần không dính bén tới tiền bạc và các tiện nghi vật chất. Rồi Người cũng báo cho họ biết họ sẽ không luôn luôn được tiếp đón, đôi khi bị khước từ và cũng có thể bị bách hại. Nhưng các vị phải luôn luôn nói nhân danh Chúa Giêsu và rao giảng Nước Thiên Chúa mà không lo chuyện thành công.
Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha nói bài độc thứ nhất trích từ sách ngôn sứ Amos cũng cho thấy các người được Thiên Chúa sai đi thường không được tiếp đón một cách tốt đẹp. Ngôn sứ Amos đã mạnh mẽ rao giảng chống lại các bất công, nhất là tố cáo các áp bức của các vua và các kỳ mục, là những đàn áp xúc phạm đến Thiên Chúa và khiến cho các hành vi phụng tự của họ trở thành vô ích. Vì thế ngôn sứ Amos bị tư tế Amasia đuổi khỏi vương quốc Israel. Nhưng dù được tiếp đón hay khước từ, ngôn sứ cứ tiếp tục thi hành nhiệm vụ ngôn sứ và rao giảng điều Thiên Chúa phán chứ không rao giảng những gì con người muốn nghe. Và điều này tiếp tục là sứ mệnh của Giáo Hội: không rao giảng điều các kẻ quyền thế muốn nghe. Tiêu chuẩn của các tộng đồ là sự thật và công lý, cả khi nó có chống lại các tán đồng của con người và quyền bính trần gian.
Cử chỉ rũ bụi chân diễn tả sự không dính bén luân lý và vật chất: như thể để nói rằng chúng tôi đã loan báo nhưng các bạn đã từ chối, và chúng tôi không muốn gì cho các bạn cả. Và sau cùng với việc rao giảng là lệnh truyền cho các tông đồ chữa lành bệnh tật, theo gương Chúa Giêsu để biểu lộ lòng lành của Người với các cử chỉ bác ái, phục vụ và sự tận hiến.
Bài đọc thứ hai cho thấy sự phong phú của sứ mệnh các Tông Đồ. Kinh nghiệm của Mười Hai Tông Đồ tại Galilea diễn tả trước một sứ mệnh rộng rãi hơn xảy ra sau khi Chúa Kitô phục sinh, và một việc rao giảng phong phú hơn giúp ý thức được chương trình cứu rỗi lớn lao của Thiên Chúa, là Đấng luôn luôn chuẩn bị dài trong thời gian.
Nhắc đến dấn thân mục vụ của giáo phận Frascati là đào tạo các người đào tạo Đức Thánh Cha nói: đó là điều Chúa Giêsu đã làm với các môn đệ Người: Chúa dậy dỗ họ, chuẩn bị họ, cả với việc thực tập truyền giáo để họ có thể lãnh các trách nhiệm trong Giáo Hội. Sau hai ngàn năm, dấn thân đào tạo ấy vẫn được Giáo Hội tiếp tục. Đức Thánh Cha giải thích nhiệm vụ này trong khung cảnh cuộc sống của kitô hữu như sau:
Trong cộng đoàn kitô đây luôn luôn là việc phục vụ đầu tiên mà các người có trách nhiệm cống hiến: bắt đầu từ cha mẹ, chu toàn sứ mệnh giáo dục con cái trong gia đình; các cha sở, đặc trách việc đào tạo trong cộng đoàn, tất cả các linh mục hoạt động trong các lãnh vực khác nhau, tất cả các anh chị em giáo dân dấn thân trong công tác giáo dục, các thành viên các hiệp hội và phong trào dấn thân trong các lãnh vực xã hội dân sự. Họ là cánh tay nối dài của linh mục là người không thể tới với tất cả mọi môi trường và đỡ nâng mọi nhọc mệt. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm và đồng trách nhiệm. Chúa mời gọi tất cả mọi người bằng cách ban phát các ơn khác nhau cho các nhiêm vụ khác nhau trong Giáo Hội. Người mời gọi làm linh mục, sống đời thánh hiến, sống hôn nhân và dấn như giáo dân trong Giáo Hội và trong xã hội. Điều quan trọng là các ơn ấy được tiếp đón đặc biệt từ phía các người trẻ. Cần phải biết lắng nghe, tiếp nhận và đáp trả lời Chúa mời gọi. Ước gì chúng ta cảm thấy niềm vui đáp trả lại tiếng gọi của Thiên Chúa với tất cả chính mình và dấn thân sống sự đồng trinh cũng như hôn nhân.
Ngay tại Frascati này chúng ta cũng cần được tái rao giảng Tin Mừng. Vì thế tôi đề nghị anh chị em sống sâu đậm Năm Đức Tin sẽ bắt đầu vào tháng 10 tới đây, nhân kỷ niệm 50 năm khai mạc Công Đồng Chung Vaticăng II.
Sau Thánh Lễ Đức Thánh Cha đã về Castel Gandolfo để chủ sự buổi đọc kinh Truyền Tin với 2.000 tín hữu và du khánh hành hương trong đó có mấy chục tín hữu Việt Nam. Đức Thánh Cha xin lỗi mọi người vì đã trễ giờ một chút, lý do là ngài đã cầu nguyện dài hơn với các tín hữu tại Frascati. Ngài nói trong bài huấn dụ:
Hôm này chúng ta đang ở trong ngày 15 tháng 7 và lịch phụng vụ kính nhớ thánh Bonaventura thành Bagnoregio, dòng Phanxicô, Tiến sĩ Giáo Hội, người kế vị thánh Phanxicô thành Assisi hướng dẫn dòng Anh Em Hèn Mọn. Bonaventura đã viết tiểu sử chính thức đầu tiên về thánh Phanxicô và vào cuối đời cũng là Giám Mục giáo phận Albano này. Thánh nhân viết trong một bức thư rằng: "Tôi xưng thú trước mặt Thiên Chúa rằng lý do khiến cho tôi đã yếu mến cuộc sống của thành Phanxicô nhất, đó là cuộc sống của người giống thời ban đầu và sự lớn mạnh của Giáo Hội" (Epistula de tribus quaestionibus, in Opere di San Bonaventura. Introduzione generale, Roma 1990,tr. 29). Các lời này trực tiếp hướng chúng ta tới Phúc Âm hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu sai Mười Hai Tông Đồ đi truyền giáo lần đầu tiên và Người dặn các ông ngoài một cây gậy đừng mang theo: bánh, bị, tiền giắt lưng, nhưng mang dép và đừng mang hai áo" (Mc 6,7-9). Sau khi hoán cải thánh Phanxicô thành Assisi đã thi hành từng chữ của Phúc Âm và trở thành chứng nhân rất trung thành của Chúa Giêsu, kết hiệp một cách đặc biệt với Chúa trong mầu nhiệm Thập Giá và được biến đổi thành một "Kitô khác".
Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Toàn cuộc sống của thánh Bonaventura cũng như thần học của người có trọng tâm linh hứng là Chúa Giêsu Kitô. Đó là điều chúng ta tìm thấy trong bài đọc thứ hai của thánh lễ hôm nay: bài thánh thi nổi tiếng trong thư thánh Phaolô gửi tín hữu Ephêxô. "Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc, cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần" (Ep 1,2). Thánh Phaolô cho thấy chương trình phúc lành đã được thực hiện trong bốn đoạn bắt đầu với từ "Trong Người" ám chỉ Chúa Giêsu Kitô. "Trong Người" Thiên Chúa Cha đã chọn chúng ta trước cả khi tạo thành vũ tru; "Trong Người" chúng ta đã được ơn cứu chuộc nhờ máu của Người; "Trong Người" chúng ta đã trở thành thừa tự được tiền định ngợi khen vinh quang Người; "Trong Người" những ai tin vào Tin Mừng nhận được dấu ấn của Chúa Thánh Thần. Bài thánh ca này chứa đựng thị kiến lịch sử mà thánh Bonaventua đã góp phần phổ biến trong Giáo Hội: toàn lịch sử có trung tâm điểm là Chúa Kitô, Đấng bảo đảm cho mọi thời đai sự mới mẻ và canh tân. Trong Chúa Kitô Thiên Chúa đã nói và đã cho mọi sự. Mà bởi vì Người là kho tàng vô tận, Chúa Thánh Thần không bao giờ thôi vén mở và thời sự hóa mầu nhiệm của Người. Do đó, công trình của Chúa Kitô và của Giáo Hội không thụt lùi nhưng tiến triển.
Chúng ta hãy khẩn nài Rất Thánh Maria mà ngày mai chúng ta cử hành như là Trinh Nữ Camelô, để mẹ trợ giúp chúng ta như thánh Phanxicô và thánh Bonaventura, quảng đại đáp trả lại lời mời gọi của Chúa để loan báo Tin Mừng cứu độ của Người bằng lời nói và trước hết bằng cuộc sống.
Trước khi chào tìn hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Linh Tiến Khải
Nguồn: radiovaticana

Bài cũ hơn:

 

TIN - BÀI NỔI BẬT

left direction   right direction